Vũ Văn Tùng

I. VŨ VĂN TÙNG (VŨ TÙNG VĂN).

I. SINH QUÁN, HỌC VẤN, NGHỀ NHIỆP

Sinh quán tại Tỉnh Hưng Yên, Bắc Việt cách Hà Nội 40 miles.
Thủa thiếu thời sinh sống tại Hà Nội, Bắc Việt Nam. Di cư vào Nam năm 1954.
Học sinh Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn. Sinh Viên Đại Học Khoa Học Saigon.
Tốt Nghiệp Dược Sĩ 1965 tại Đại Học Dược Khoa Saigòn.
Dược sĩ tại Bệnh Viện Trung Ương Huế.
Nhập ngũ Khóa 7 năm 1966 tại Trường Võ Bị Sĩ Quan Thủ Đức.
Dược Sĩ Trung Úy tại Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
Thuyên chuyển về Trường Quân Y QLVNCH để huấn luyện và đào tạo khóa sinh sĩ quan Trợ Y, Nha, và Dược.
Tổng Thư Ký Tập San Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (1968-1972).
Thăng cấp Dược Sĩ Đại Úy.
Biệt phái về làm việc tại Bộ Y TẾ Việt Nam Cộng Hòa,
Rời Việt Nam ngày 29-4-1975 và đến Hoa Kỳ, sau đó đi Canada. Năm 1987 trở lại Hoa Kỳ.
Từ 1965 cho đến nay hành Nghề Dược Sĩ tại ba quốc gia:
VIỆT NAM,
CANADA và
HOA KỲ
Viết văn và Làm báo.

II. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ LÀM VIỆC:

Năm 1963 tổ chức Trại Hè Thân Hữu do Viện Đại Học Saigon
tài trợ cho trên 200 Sinh Viên thuộc các
Phân Khoa Đại học, như Kiến Trúc, Văn Khoa, Nông Lâm Súc,
Y Nha Dược vân vân. Kết quả thành công rực rỡ.
Giảng Nghiệm Viên tại Đại Học Dược Khoa Saigon về Hóa
Học Phân Tích từ 1964-1975.
Giảng Nghiệm Thực Tập tại Trường Dược Tá, trong Viện Pas-
teur Saigon.
THAM VỤ BÁO CHÍ, Bộ Y TẾ Việt Nam Cộng Hòa từ 1968
đến 1974 (Tổng Trưởng Y Tế: BS Trần Minh Tùng).
Quảng bá Chương trình Y Tế về Làng của Việt Nam Cộng Hòa.
Chủ Trương Nguyệt San SINH HOẠT Y TẾ, và Tập San
TRUYỀN SINH của Bộ Y TẾ VNCH (1970-1974).
Chủ tịch THANH THƯƠNG HỘI VIỆT NAM (JUNIOR CHAMBER
OF COMMERC=JAYCEE, USA) NĂM 1972.
Thanh Tra Bào Chế, BỘ Y TẾ VNCH (1974-1975)

III. TẠI HẢI NGOẠI.

Chủ Nhiệm Nguyệt San SINH HOẠT (1987-1988), Thông tin
Nghị luận phát hành trên toàn nước Mỹ
Chủ Nhiệm Điều Hành Tập San DƯỢC KHOA do Hội Dược Sĩ Việt Nam Tại Hoa Kỳ phát hành (1989-1991)
Chủ Nhiệm Y TẾ Nguyệt San, Y Nha Dược và Văn Học Nghệ Thuật, Từ 1992-2013 phát hành khăp Thế giới
Chủ Tịch Công Ty YTE Distributors, Inc. USA. Ấn loát và Phát hành Sách Báo 1993…..
Chủ tịch HỘI DƯỢC SĨ VIỆT MỸ NAM CALIFORNIA (VAPAISC),
Hội Viên Văn Bút Trung Tâm Văn Bút Nam California từ 2002
Đệ I Phó Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Nam California, Nhiệm Kỳ VH Thái Anh Duy 2004-2006
Đệ I Phó Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Nam California, Nhiệm Kỳ VH Trần Thy Vân 2007-2010
Chủ Tich Trung Tâm Văn Bút Nam California, 2011. Ðắc cử Chủ Tịch VBVNHN tháng 12 năm 2011
Chủ Tịch VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI (VBVNHN) Nhiệm kỳ: 2011-2014 & 2015-2017)

IV. TÁC PHẨM ĐÃ VÀ SẼ ẤN HÀNH:

Tác phẩm đã ấn hành:

1. HOA ĐỒNG NỘI, Tập truyện. (2001)
2. THUNG LŨNG HOÀNG HÔN, Tập truyện (2003)
3. VƯỜN ĐỊA ĐÀNG, Tập truyện (2007)

Các tác phẩm khác cũng sẽ được phát hành nay mai:
4. KHU PHỐ VÀ NGƯỜI TÌNH, tập truyện
5. NHƯ GIẢI LỤA ĐÀO TẨM HƯƠNG, truyện dài.


Vườn Địa Đàng
Tỏa Hương Đượm Sắc
 

Vì đam mê thưởng lãm kiệt tác văn thi sử luận, tôi quý trọng các kỳ phẩm ngoại ngữ, Việt ngữ được tác giả thả bút dụng vựng kết từ để diễn tả phong cảnh, tình tự một cách cầu kỳ với lối hành văn tỉ mỉ song song với cốt chuyện đặc sắc qua nhiều chuyển tiết ly kỳ đa dạng.  Và tôi thật sự đã đi từ ngạc nhiên đến cảm phục vì đón gặp cả hai yếu tố này hòa luyện với nhau vô cùng độc đáo và xuất sắc trong tác phẩm Vườn Địa Đàng.
“Năm tháng qua đi, những trận mưa đổ xuống tạo thành những suối nước soi mòn dần mặt đất khiến mảnh vườn đã chằng chịt hằn lên những rãnh sâu hoắm như màng lưới nhện phủ khắp nơi.  Từ bờ rãnh sâu những lớp cỏ chờn vờn trên mảnh đất khô đang cố tỏa ra những rể non hòng mong tìm được vùng đất mới để bấu víu tìm sự sống.  Chúng lênh đênh, chơi vơi, nghiêng ngả dù chỉ trước một cơn gió thoảng thật nhẹ.”  (tr.133-4)
Ai có cơ hội quan sát những khu đất đầy vết hằn vì nước xẻ xói qua nhiều năm tháng có lẽ dễ dàng hình dung ra khung cảnh mà tác giả đã minh họa ra vô cùng chi tiết bằng từ ngữ thật sống động để nhận thấy “những lớp cỏ chờn vờn ..  lênh đênh, chơi vơi, nghiêng ngả ..  bấu víu tìm sự sống”.  Ai có dịp ghé Toronto trà tửu với tôi ở Dương Dragon Ranch sẽ thấy các dấu vết nứt với cỏ non lất lơ này trên mạch đất bao la để cảm nhận được khả năng tinh tế sử dụng mỹ từ nhằm diễn tả trọn vẹn hình thái thiên nhiên của tác giả.  Và chính lối hành văn đặc sắc của tác giả đã thu hút sự chú ý của độc giả và hướng dẫn độc giả thả tâm lưu lạc theo những nẻo quanh co của các mẫu chuyện nhiều ẩn ý sâu xa.
Nội dung của tác phẩm Vườn Địa Đàng chứa đựng hằng hà bố cục khai phóng với nhiều ẩn dụ giá trị hướng thượng đượm tình người dào dạt.  Về phương diện hình thức thì tác phẩm bao gồm năm (5) truyện ngắn trải trên 298 trang giấy được in công phu tuyệt đẹp:  Tháo Cũi Xổ Lồng, Ánh Mắt Ngày Xuân, Vườn Địa Đàng, Hương Hoa Bèo Bọt, Cánh Đồng Chẩy.
Qua Tháo Cũi Xổ Lồng, người đọc gần gũi với gia cảnh tị nạn Việt Nam dễ nhận dạng sự bở ngở ban đầu trong cuộc sống mới và ý chí tiến thân bất chấp khó khăn.  Ông Hoan trốn chạy khỏi thiên đàn cộng sản vì quá “sợ hãi hận thù” khi chứng kiến “những hình ảnh hận thù chà đạp trên lý trí con người”.  Đến xứ người, ông phải cưu mang hy sinh cho một thằng bé mồ côi cha mẹ trên đường vượt biên.  Ông không dám ăn ngon, không dám mặc đẹp vì cần dành dụm đồng lương ba cọc cho ngày thằng bé vào đại học.
Thằng Hoạt, bây giờ là Howard, lớn lên ở xứ người lại bị kỳ thị vì vóc dáng Á châu thiếu thể lực cho nên mặc cảm yếu kém; chính ông Hoan đã khuyến khích và chỉ cho nó thấy ưu điểm hầu tiến thân:   “đường đi còn dài.  Thắng trong trận đấu banh chỉ là cảm tưởng chốc lác thôi con ạ!”  Với diễm phúc và sự hy sinh cao cả của dưỡng phụ, Hoạt hay Howard trưởng thành như thế nào trong xã hội Bắc Mỹ quý mến nâng đỡ ý chí cá nhân?
Truyện Ánh Mắt Ngày Xuân đưa người đọc đến một khung trời khác lạ với không khí nhộn nhịp của làng xã Việt Nam trong những ngày trước Tết “(k)hi những khóm tre đầu ngõ bắt đầu đổi thành mầu hươm hươm vàng và những trận gió bấc đuổi nhau thổi về đem theo cái lạnh căm căm quyện quấn khắp nơi đã báo hiệu cái tàn tạ của năm cùng tháng tận gần kề”  (tr.89).  Qua cặp mắt quan sát vô tư của cậu bé “ngót nghét mười tuổi đầu”, người đọc được gợi nhớ từ cảnh chọn “tre vàng và nhỏ” thay vì “tre bầu” để làm cành nêu Tết đến việc chọn lá chuối ngự thay cho lá chuối tiêu để gói giò.
Tác giả đã tài tình minh họa bức tranh thật tuyệt hảo của bà mẹ không “một nét giận dữ” khi lo cho bố con chả biết “tằn tiện, chắt bóp,” người cha rộng lượng “hiểu ý” con cũng như tình cảm láng giềng nương tựa giúp đỡ lẫn nhau trong lúc hoạn nạn.  Tỉ mỉ và đặc sắc là đoạn văn mô tả cảnh tượng người cha mài mực viết văn tế trên chiếc chiếu hoa (tr.106);  ông không những cẩn thận dùng “nước mài mực phải thanh tịnh” mà còn định tâm “tìm ý tứ trước khi bắt đầu” viết văn tế đầu năm.
Truyện Hương Hoa Bèo Bọt diễn tả khung cảnh Tết của làng xã “nơi miền quê xa xôi hẻo lánh” trong thời kháng Pháp.   Dân ta vẫn giữ gìn những phong tục quý báu nghìn xưa và rộn ràng chuẩn bị ăn Tết với lời nhắn chia trước phần thịt, mua “vải để may quần áo cho cháu,”  chuẩn bị hoa quả cùng “bánh pháo lệnh,” cũng như dựng cành nêu để đón giao thừa.  Chứa đựng trong câu chuyện vô cùng xúc tích là những từ ngữ, món ăn thức uống, kinh nghiệm đặc thù hình như đã biến mất hẳn trong văn chương Việt Nam như “xuống cầu ao xúc chân,”  “ra cầu ao khỏa chân,” “bắt ne bắt nét,” “nước nụ vối ướp hoa nhài,” “lợn bã đậu,” “hoa bèo tháng chạp,” lông lợn dùng triết cây, v.v.
Đó đây là hình ảnh khủng bố của “công an giải phóng” với “những khuôn mặt nghênh ngang và vênh váo” nhưng người dân vẫn sinh hoạt trong tinh thần tương thân tương trợ, dạt dào tình cảm láng giềng.  Câu chuyện còn đưa độc giả theo chân những người vì nhu cầu sống phải đi buôn lậu.  Giữa sự bắt bớ của “công an giải phóng” và sự nghi ngờ của họng súng trên chòi canh với ánh đèn pha quẹt sáng ruộng đồng là đoàn người vượt tuyến đi buôn.  Họ là những người dân bình thường cố gắng kiếm cách mưu sinh, và số phận của họ sẽ ra sao khi bị đè bẹp bởi lằn đạn vô tri?
Truyện Cánh Đồng Chẩy minh họa tình tự chia xẻ tương trợ đầy nhân tính của nét đẹp văn hóa dân tộc.  Đứa bé sơ sinh mất mẹ được cả làng mớm sữa mặc dầu gia đình có người mắc hủi trầm kha, vốn là căn bệnh mà ai cũng tránh xa.  Dân làng thường xuyên đem bầu, bí, mướp, rau giúp đỡ kẻ lâm vào cảnh khó khăn.
“Những cảm tình nồng ấm của người xóm làng biểu hiện tất cả những tấm lòng cưu mang trong một ngôi làng nhỏ.  Họ đã sống tại đây đời này qua đời khác.  Họ đã biết nhau tường tận nếu không nói từng li từng tí về nếp sinh hoạt và đời sống của mỗi gia đình.  Cũng vì vậy họ quí mến và thành thật với nhau.  Không tị hiềm hay ganh ghét.” (tr.248)
Nhưng khung trời êm dịu của làng xã bị đảo lộn vào lúc giao thời khi tình cảm nương tựa láng giềng bị ngọn lửa hận thù thiêu hủy.  Ân nhân bị kẻ thọ ơn đem ra tàn sát, người đàn bà nuôi sữa vì từ tâm bị chính đứa bé sơ sinh được bà ân dưỡng khi đói ăn sắp chết ngày nào đưa ra đấu tố.  Đất trời đảo loạn vì mưu trá chính trị, tình nghĩa láng giềng đổi thay vì ngọn lửa ý thức hệ tàn bạo.
May mắn cho hy vọng hướng thượng  là có người dám từ chối hòa theo cơn sốt điên rồ và đã can đảm chọn thế đứng sừng sững giữa đất trời như những thí dụ hùng hồ về nét văn hóa làng xã đầy nhân tính bám rễ sâu nghìn năm của cây đại thụ vạn niên tình tự dân tộc:  anh Ích có con làm bí thư huyện ủy nhưng từ chối bổng lộc để tiếp tục trú ngụ trong gian nhà cũ tồi tàn rồi còn yêu cầu khi chết phải được vùi thân ở “bãi tha ma dành cho những ngôi mộ hoang” không bia không vía;  cô Sơ can đảm cầm gậy đánh chánh án đấu tố và dõng dạc nguyền rủa: “Tụi bay là những người vô nhân bất nghĩa..  Nếu không có bà (Lý) thì liệu mày còn sống đến hôm nay hay không!”
 
Vườn Địa Đàng là một trong năm câu truyện ngắn trong sách và tên truyện cũng là tựa đề của tác phẩm.  Truyện Vườn Địa Đàng minh họa sống động bức tranh tương tư của một chàng bắt rắn lấy mật về giai nhân được ấp ủ trong khung trời đài các hoàn toàn khác biệt.  Thay vì tiếng sáo Trương Chi khiến Mỵ Nương lâm bệnh thì sắc đẹp thanh tao của cô bé Thảo trong vườn địa đàng hút hồn anh thợ săn rắn tên Sàm.  Chính sự cao cả rộng lượng của Thảo trong thái độ đối xử tốt đẹp từ lần tiếp xúc đầu tiên đã tạo nên ấn tượng cao quý trong tâm tư của Sàm, người bị dân làng xem thường.  Sàm đam mê trong tương tư nhưng Thảo chỉ nhìn Sàm như một người xấu tướng lại tốt dạ.  Sau khi Thảo bước lên xe hoa lộng lẫy về nhà chồng, khu vườn địa đàng thỉnh thoảng vẫn thấy bóng Sàm thẩn thờ “nhấp nhô ẩn hiện trong khung cảnh hoang dã nhưng nhạt nhòa dần.”
 
Vườn Địa Đàng là câu chuyện thứ ba trong văn phẩm đặc sắc này nhưng được dành để giới thiệu trong phần cuối chỉ vì lúc nghiền ngẫm lại thì tôi thấy sự trùng hợp với tình trạng hiểu lầm phổ cập trong nhiều tổ chức bởi vì lý do rất đơn giản là các giao hữu cư ngụ cách xa nhau, ít khi gặp gỡ, không có dịp trao đổi thường xuyên cho nên dễ bị rơi vào tình trạng thiếu xót sự thông cảm cần thiết.  Điển hình như khu vườn nhà cô Lương Thanh Thảo vì chỉ nằm ngoài bìa làng và ba cô hay đi làm xa ở Phủ Toàn Quyền cho nên “(n)gười làng cho đây là một khu vườn hầu như bỏ hoang vì thiếu sự chăm sóc thường nhật!” cho nên “khoác mặc tất cả cái huyền hoặc, bí ẩn” (tr.134)  trở nên “(m)ột nơi như cấm địa với mọi người” (tr.157).
 
Sự thật lại hoàn toàn trái ngược với những suy đoán như trên.  Lũ nhóc trong làng biết rõ là “người làng đồn đại vườn ông Thảo là một vườn hoang không đúng một tí nào cả” (tr.155).  Và chúng đã có dịp “mải mê ngắm cảnh” .. “nhao nhao trầm trồ khen cái vẻ đẹp mà chúng chưa hề thấy có nơi những nhà cửa khác trong làng” (tr.149).
 
Rồi còn việc hiểu lầm về danh từ khi lũ trẻ làng xin trứng chim nhưng cô Thảo chỉ thấy vỏ trứng vỡ tan chứ cô “chưa bao giờ trông thấy hình dáng thực của trứng quạ cả!” (tr.154).  Đến khi đem kẹo đỗ lạc to tròn phát cho lũ trẻ thì cô Thảo mới ngỡ ra các viên kẹo này “là trứng chim..Hôm nay là quả trứng chim thứ hai!  Em để dành! Em không ăn đâu!  Trứng chim quí lắm, cô ơi!” (tr.157)   Không những chỉ riêng cô Thảo mà độc giả cũng khó ngờ là lũ nhóc trong làng gọi các viên kẹo đỗ lạc của gia đình Thảo ban phát là trứng chim.
 
Sự hiểu lầm có thể xảy ra trong bất cứ trường hợp nào, đặc biệt là khi có kẻ vì lý do cá nhân vươn tay tung hỏa mù gây ra sự xáo loạn cho thịnh tình chung.  Ngay cả “mỗi khi vào làng gặp ai ông (ba cô Thảo) cũng chào hỏi trước, không bao giờ chờ đợi được chào hỏi đáp lại.  Ông luôn trịnh trọng thưa bẩm và cười tươi.” (tr.156),  nhưng vườn nhà ông vẫn bị hiểu lầm để trở nên “(m)ột nơi như cấm địa với mọi người”.  Thật ra có lẽ chỉ vì xa mặt cách lòng “nếp sống khác biệt .. đã khiến một số người không ưa hoặc đưa điều ong tiếng nheo cho hả cái bực tức” (tr.155).
 
Tình trạng xa mặt không hẳn sẽ dẫn đến sự cách lòng, đặc biệt khi quan sát khách quan chuỗi dài thăng trầm của dân tộc bởi vì dù bị chia tay với bất cứ lý do gì nhưng ai cũng cố gắng cẩn thận giữ gìn tình cảm cao quý của gia đình, của người thân yêu.  Tuy vậy, sự xa mặt có thể tạo điều kiện cho tình trạng cách lòng phát triển nếu bị yếu tố vô tình bất nghĩa chi phối.  Để giảm bớt xác suất cách lòng hiểu lầm, bằng hữu xa mặt cố gắng gần gũi, trao đổi thường xuyên nhằm vun đắp thịnh tình thâm giao.
 
Trong Vườn Điạ Đàng qua năm câu truyện với bố cục đa dạng, tác giả đã diễn tả tỉ mỉ tình cảnh phức tạp của xã hội và đặc biệt giúp đưa người đọc về với khung cảnh mộc mạc của làng xã Việt Nam, về với sự khó khăn cần được khắc phục trong những năm tháng đầu của cuộc đời tị nạn với nhiều ẩn ý sâu xa:
 
“Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng,
bắt trải qua bách chiết thiên ma.” Nguyễn Trãi
.
 
      Tác giả của văn phẩm Vườn Địa Đàng đặc sắc là nhà văn Vũ Văn Tùng, nguyên Tổng Thư Ký Tập san Quân Y Quân Lực VNCH (1967-73), nguyên Chủ Nghiệm Nguyệt san Truyền Sinh của Bộ Y Tế VNCH (1970) và hiện nay là Chủ Tịch VBVNHN (2012-14, 2015-17).
 
     Tôi có dịp gặp và quen anh Vũ Văn Tùng vào tháng 12-2014 tại Đại Hội Văn Bút VNHN kỳ 10 ở California.   Nhà văn Vũ Văn Tùng là bậc đàn anh so về tuổi tác nhưng, trong các dịp gặp gỡ và trao đổi với một kẻ hậu bối như tôi, anh luôn luôn biểu hiện tánh từ tốn hiền hòa khả kính.   Khi chia tay, anh ký tặng tôi vài tác phẩm trong đó có sách Vườn Địa Đàng.
 
     Tôi có thói quen cố hữu không bỏ được là bắt buộc mình phải đọc sách do tác giả thân tặng để hiểu thêm về người viết chỉ bởi vì thịnh tình đặc biệt của tác giả.   Tuy vậy, mãi đến tháng 3-2015 này trong dịp nghĩ hai tuần March Break với gia đình ở Cancun tôi mới có cơ hội thảnh thơi để đọc một số sách trong đó có tác phẩm Vườn Địa Đàng.
 
     Cách hành văn tỉ mỉ với từ ngữ chọn lọc đượm tình tự nhân hậu song song với bố cục chuyện đa dạng đan chéo bất ngờ của tác giả Vườn Địa Đàng thu hút đưa dẫn độc giả lạc bước vào khu vườn văn chương minh họa sống động tập quán làng xã dễ bị thời gian lãng quên với hằng hà từ ngữ mộc mạc nhưng súc tích, cầu kỳ lại đượm hương sâu sắc giúp người đọc thảnh thơi thả tâm du ngoạn từ nẻo mòn ngạc nhiên đến lối quanh cảm phục.  Thật lâu lắm rồi mới thưởng lảm được một văn phẩm đặc sắc cho nên xin trân trọng cảm ơn tác giả Vũ Văn Tùng.
 
 
Vịnh Thanh
15-4-15

 


Cánh Đồng Chẩy

Xóm làng nghe tin chị Ình sinh con.Tin loan truyền nhanh như ánh chớp. Hàng trăm con mắt hàng xóm láng giềng đổ xô vào ngôi nhà xiêu vẹo nằm trên bờ ao. Đây là một trong ba căn nhà nằm cheo leo trên một thửa đất cao. Tứ bề vòng quanh nhà là những vùng đất rêu mọc khắp nơi. Không tìm thấy hình dáng một viên gạch nung nào trên sân. Ngôi nhà đã giữ nguyên vẹn không biết qua mấy đời rồi. Chỉ thoáng nhìn đã cho ta ấn tượng một cuộc sống phẳng lặng không ganh đua với thời gian. Cũng chính nơi đây đứa bé đã được sinh ra đời. Những vấn hỏi, kháo nhau về đứa trẻ vừa o oe chào đời.

“Vậy chứ nó là giai hay gái!”

“Giai hay gái ư? Thây kệ nó! Can gì đến mình!”

“Có chứ! Tại sao không!”

Họ đoán dường như:

“Con gái! Đó là một đứa con gái”

“Ôi chao! Lại giống cô nó! Nòi nào giống nấy!”

“Sao lại giống cô nó? Sao không bảo giống mẹ nó!”

“Đ.M! Nếu vậy đã có phúc”

“Nghĩa là sao, cô hay mẹ!”

“Này này.. ghét bỏ…!”

“Hề hề.. thương thương ghét ghét như chuyện đánh bùn sang ao mà!”

Đó là một đứa con gái! Nó đã sinh ra đời không được đăng trong sổ bộ của làng. Đứa bé không được đặt tên khi mở mắt chào đời. Nó không có tên. Dù là cái tên thật xấu xí hay bình dị nhất. Cũng chẳng lạ khi không có chút gì đánh dấu để làm vết tích ngày nó sinh ra đời! Mọi người đã cho nó cái tên mà mọi người nói ngay trên cửa miệng nên nó mặc nhiên được mang cái tên là Gái. Đứa con gái có tên là Gái. Cái tên gọi như đương nhiên lúc nó sinh ra và sau này. Mọi người đã gọi nó như vậy. Gái đã trở thành tên cúng cơm. Gái là đứa con của chị Ình. Đây là chuyện của đứa con gái có tên là Gái.

Khi mới mở mắt chào đời Gái được cuốn trong manh áo đụp cũ. Máu me còn bê bết trên chiếu trên váy chị Ình. Gái được đặt nằm trên chiếc giường tre trải chiếc chiếu cũ đã rách sơ xác. Thực ra đây là một chiếc chõng không biết đã trải qua mấy đời ông cha nó. Mẹ nó nằm bên cạnh ôm con hướng đôi mắt vào những chiếc gộc tre đang cháy bừng bừng. Trời vừa vào cuối thu nhưng chị vẫn cảm thấy lạnh. Cái lạnh thấu gan thâu ruột. Lúc này chị ước ao được húp một bát cháo hoa thật nóng. Môt bát cháo trắng thôi. Nhưng không có ai cung dưỡng chị để thỏa cái ước mong. Đừng hòng mơ ước một bát cháo gà nóng! Muốn có gà phải làm thịt. Chị không nhớ rõ mình nuôi đươc mấy con gà. Chị chợt nghĩ đến người chồng: “Ôi cái anh chàng chồng chị! Bao giờ cũng dửng dưng gần như lạnh nhạt! Gã luôn luôn giữ môt khoảng cách với vợ! Sao lại có người như thế đươc nhỉ!”

Chị cảm thây yếu và mệt lả. Có lẽ lúc sinh chị đã mất máu nhiều. Chị Ình đã tự phải lo liệu lấy tất cả. Từ lúc trở dạ và những cơn đau quặn phía dưới bụng chị vẫn cố gắng nhịn nhục để gắng sức ra phía sau nhà ôm một mớ gộc tre để đem vào trong buông. Chị đoán biết lúc sinh đẻ cần ngọn lửa để đem lại nóng ấm và sức lực. Chung quanh chị sẽ chẳng có ai. Hàng xóm láng giềng chẳng ai ngó ngàng. Mọi người nhìn ngôi nhà chênh vênh trên bờ ao như xa lạ. Không ai màng đến bên trong dù có điêu gì sẽ xẩy ra hay đang xẩy ra cho chị. Bà mụ đỡ trong làng đã từ chối không đáp lời gọi của chị khi chị sắp lâm bồn. Lý do của bà mụ trong làng cũng dễ hiểu là vì họ hàng bên chồng chị có người mắc bệnh nan y, bất trị. Bệnh hủi! Lý do tật bệnh đã ngăn cản một cuộc tương giao dù trong môt không gian làng mạc chẳng lớn lao gì. Không ai lui tới thăm viếng và chơi bời gì với gia đình này mặc dù chị Ình có một sắc đẹp khá mặn mà. Vào tuổi con gái chị có đôi má hồng phơi phới. Người xóm làng thường nhìn chị với vẻ trách móc, luyến tiếc.

“Xấu xí gì cho cam! Đâu đến  nỗi mà phải chui vô cái gia đình nhà đó nhỉ! Gớm cái đồ con gái lứng…!”

“Vội vã sợ ế ẩm ư! Sao không nghĩ tới bụi góa! Nhan hồng phận kiếp một đời! Liệu có ngoa chăng?”

Tiếng đồn gần xa rồi cũng bay đến tasi chị! Chị làm ngơ! Lúc này chị đang nằm đây. Chị đang ôm đứa con mới ra đời. Chị nhìn nhưng bức vách nhà bao quanh. Ánh lửa phản chiếu những cọng rơm như nổi bật trong những lớp bùn nay đã khô nỏ hoàn toàn. Chung quanh chị chiếc áo nâu vá chằng chịt, chiếc váy thùng thình và chiếc yếm bạc mầu đang được mắc vôi trên một chiếc đinh tre đóng trên vách nhà. Những chiếc cột nhà gỗ xoan đang để lộ thân cây nhẵn thín. Chiếc khăn vuông đã mất đi mầu đen nguyên thủy. Chị còn nhớ những ngày xa xưa vội vã trên con đường trong xóm. Hấp tấp ra đồng để vun xới mấy sào ruộng xa xôi cùng chồng. Mỗi lần ra đường chị chít vội chiếc khăn vuông đen này được gấp chéo làm đôi sau khi đã co đôi tay kéo hai đuôi khăn buộc lại đằng sau. Khéo léo gọn ghẽ khiến chiếc khăn vuông đen bị ghì bó phía sau và hiện rõ ràng nơi phía trước như chiếc mỏ quạ nhọn hoắt. Đôi cánh nheo của khăn được gấp lại chăng khác gì đôi cánh của con chim đang quặt lại phía sau để lấy đà trong cuộc bay. Chiếc khăn đen mỏ quạ ẩn hiện dưới đôi má hồng đào càng làm tăng vẻ duyên dáng mĩ miều của chị.

Chiếc khăn vuông của chị có mầu đen tuyền không phải được mua ở chợ. Những gánh hàng vải ở chợ không bán khăn vuông nhuộm mầu. Bất cứ mầu gì! Chứ đừng nói đến cái mầu đen vì mầu đen hay nâu nó chỉ dành cho những người chân lấm tay bùn. Mầu nâu phải ra chợ chọn củ nâu! Tốn kém! Chỉ cái việc mài củ nâu để nhuộm rồi căng phơi cũng tốn năm bẩy bữa chứ không ít. Nhưng đây là chiếc khăn được chính chị nhuộm đen. Nhuộm khăn bằng bùn. Bùn đen tựa mực. Muốn chiếc khăn vuông có được mầu đen mong muốn như chị ao ước, chị đã phải mò mẫm, chui rúc vào góc vườn dưới gốc cây sung để cào những cuốc bùn dưới ao sâu. Cứ nhìn nước trong ao đen kịt bao phủ bởi lớp bèo tấm xanh rờn là đoán ngay ra nơi đây ở phía dưới sẽ có những lớp bùn đen không nơi nào có bùn đen hơn nữa! Chị đã cào những lớp bùn này lên mép vườn của ông Sởn. Chị tự nhủ việc lấy một vài cuốc bùn sẽ chẳng làm mất mát hay thay đổi đến những gì ao bèo tấm đang có. Nhưng chị cũng khôn khéo vác cuốc để năn nỉ người chủ ao:

“Xim bác cho em vài cuốc bùn có được không ạ?”

Ông Sởn nheo mắt nhìn chị:

“Thím muốn lấy bùn trong ao tôi ư? Sao không nhờ người nào đỡ đần! Chú ấy đâu?”

Chị Ình đánh trống lảng qua nụ cười như cố tỏ vẻ cái tháo vát của mình.

“Em lấy được! Vài cuốc có nhiều nhặn gì đâu! Nhà em đang mắc bận việc đồng áng”.

Vẻ ngại ngùng ông Sởn như hùa theo ý muốn của người đàn bà:

“Thím cứ tha hồ. Tôi cầu người xúc bùn là đằng khác. Gớm cứ nhìn giặng tre trên bờ, chúng không thương tiếc đổ lá xuống ao. Ao cứ mỗi ngày một nông! Không chừng đôi ba năm nữa ao sẽ bị lấp thành vườn! Nghĩ đến việc đánh bùn để ao sâu thêm mà ngại để rồi chẳng có gan làm chuyện ấy! Thím cứ lấy bao nhiêu thì lấy!” Ông Sởn đang luồn tay dưới lớp cạp quần nâu. Bỗng ông rút vội tay để chỉ về phía góc ao và tiếp lời: “Thím à, Bùn đen và nhuyễn ngay dưới gốc sung. Thím phải vào đó mới được. Nhưng mà gai góc, rắn rết đầy ra đấy! Đấy không phải là chỗ cho đàn bà con gái đâu! Gọi chú ấy giúp một tay đi!” Ngừng nghỉ trong giây lát ông Sởn lại oang oang nói tiếp: “Tôi nói thật đấy! Thím ạ! Cứ nhìn những con rắn lột xác để lại da vẩy đầy trên khóm tre kia kìa! Thấy mà phát khiếp! Đố, tôi cũng không ai giám vào đâu!”

Chị Ình đã biết chẳng bao giờ chồng chị làm công việc này nhưng đã khôn khéo trả lời:

“Em biết! Ban ngày ban mặt có gì mà sợ”

Thế rồi chị đã thực hiện cái ham muốn của mình bằng chính bàn tay của mình cặm cụi cuốc bùn để kéo vội lên bời. Khi lượng bùn đen đã được đổ đầy trên góc vườn cao như mâm xôi chị đã không ngại ngùng đem nhận mảnh vải chúc bâu trắng toát vào lớp bùn đen kịt. Chị ném quốc sang một bên để tự tay nhào khăn vào bùn, lớp bùn đen kịt trông mà khiếp. Chị lầm bầm trong miệng: “Không ao nào có thể có bùn đen hơn bùn ao bác Sởn cả! Ngay cho đến cả những giọt mực tầu cũng phải thua xa! Ôi sao mà chúng đen quá! Chỉ cần một nước là đủ! Không phải nhuộm nước thứ hai!” Chị cũng chẳng quên chép miệng ra vẻ chê bai mầu nâu. Tốn công tốn của mà chắc gì đã hơn. Chị đã chọn mầu đen. Chị đã có chiếc khăn như mong muốn. Chiếc khăn vuông đen tuyền không một chỗ chê!

Chị nằm đây. Trong lúc này chị mới có dịp nhìn lại chiếc khăn treo trên cột nhà. Chị nhìn tác phẩm của mình phôi pha qua thời gian. Chị không quên nhìn đứa con nhỏ. Đứa nhỏ đỏ hỏn. Có đôi môi cong tớn. Mái tóc đen tuyền dài thườn thượt quá mang tai. Đứa bé vẫn nhắm nghiền đôi mắt. Chị đưa chiếc móng ngón út như cậy một chiếc vẩy máu khô đang đóng quánh trên mí mắt của đứa nhỏ. Ánh lửa bập bùng khiến chị không trông rõ chiếc vẩy đã bám chặt vào lớp da non nớt của đứa bé gái. Chiếc móng tay ngón út không đủ sức để làm bong chiếc vẩy. Chị thục mạnh hơn nữa. Đứa bé giật mình. Dơ đôi tay khoa trong khoảng trống. Đôi chân co lại. Hành động biểu lộ sự đau đớn vì sức cậy mạnh bạo của người mẹ. Đứa bé buông tiếng khóc ré lên. Tiếng khóc như sặc xụa ngắt quãng từng hồi như cổ họng đang vướng mắc vật gì. Nó khàn khàn khô khan không thành tiếng. Chị vuốt mái tóc. Cử chỉ vỗ về không làm đứa bé im tiếng khóc.

Thời gian qua mau, chị cảm thấy chiếc áo rách quấn quanh mình phía dưới hạ bộ dường như không đủ để cầm giữ những giọt máu cứ tiếp tục rỉ rả thấm ướt nhiều hơn. Chị thục tay xuống phía dưới để tìm kiếm. Chị dơ chiếc tay trước ánh lửa. Một mầu đỏ đậm của máu lan dần trên đốt ngón tay. Chị chớp vội đôi mắt để nhìn những giọt máu đỏ tươi. Chị vội khép đôi đùi lại với ý tưởng để ngăn những giọt máu cứ tiếp tục chẩy ra. Tất cả vô hiệu. Chị mệt lả. Chị không đủ sức để kéo đôi mắt xập xuống. Chị đã thiếp đi trong cơn đau. Chân tay rã rời, chị đã đi vào giấc ngủ lúc nào không hay! Đôi mắt vẫn trợn chừng! Chị không ngủ thực. Chị đã vĩnh viễn ra đi vì cơn băng huyết!

Anh Ình có vóc dáng một người cao lớn. Anh đã đứng tuổi, thân hình tráng kiện. Suốt đời không mặc quần áo. Anh chỉ có một chiếc khố duy nhất. Chiếc khố không có mầu rõ rệt. Nó nửa nâu, nửa đen. Có lẽ đây là miếng vải hoen bẩn vì thời gian nên không có mầu sắc. Thoảng đôi khi trời nắng ráo, anh ở truồng để đem chiếc khố ra ao giặt. Anh cứ trần truồng như vậy và không hề ngượng ngập. Mỗi khi anh tháo khố đem đi giặt và để tránh những con mắt nhòm ngó của xóm làng anh đã khép lại cánh cổng tre thưa. Nói là cổng nhưng đây là những thân tre khô trơ trụi lá nên người trong xóm chỉ cần liếc đôi mắt vào là thấy tất cả những gì bầy biện hay sắp xếp bên trong hoặc giả anh Ình đang trần truồng xuống cầu ao tắm rửa hoặc giặt khố. Đôi khi anh dơ tay bịt hạ bộ! Bàn tay không đủ che khuất. Anh tặc lưỡi cười bâng quơ một mình để rồi lẳng lặng bước xuống cầu ao và nhẩy ùm xuống ao vội vã.Tất cả hành động anh coi như là chuyện đương nhiên chẳng việc gì mà phải thẹn thùng hay ngượng ngập cả. Anh luôn luôn tỏ vẻ chẳng bao giờ quấn quít vợ con. Cơm nước chẳng biết được phục dịch ra sao nhưng không bao giờ anh lớn tiếng với vợ. Có lẽ chị Ình đã bằng lòng lấy anh là một ân huệ cho người đàn ông này. Anh cũng chẳng bao giờ xuất hiện bên cạnh vợ. Hội hè trong làng dường như là một chuyện riêng xa vời với gia đình anh.

Anh Ình có mái tóc dài thườn thượt. Nếu để buông thõng thì mái tóc phủ kín đôi vai và không chừng xuống đến lưng người. Mái tóc dài được búi lại thành một búi tó nằm ngay nơi gáy. Nhưng nó chẳng bao giờ được giữ yên ở vị trí này mỗi khi anh di động nó lủng lẳng và cứ trễ thấp dần dần xuống. Cho đến một lúc những sợi tóc không còn sức bện kết thì chúng sẽ đua nhau bung ra để tung tóe ném trên vai trên mặt anh. Mái tóc cần đến người săn sóc. Không phương tiện trang trải nên anh cứ thây kệ những sợi tóc tự do như khu vườn hoang. Trái với mớ tóc, khuôn mặt nhẵn nhụi dường như được chăm sóc kỹ càng hơn do con dao cạo được mài liếc hàng ngày nên những nhánh râu ria không mọc kịp.

Gia đình anh Ình cũng không nghèo lắm vì anh cũng được tổ tiên để lại cho vài sào ruộng ở Đông Kênh xa tít mù tắp. Vào vụ lúa mùa, cây lúa không cao quá đầu gối vì đất cằn cỗi. Nhưng mùa giồng ngô và đậu thì lại là chỗ thuận lợi nhất là cho đỗ lạc. Những cây đỗ lạc xanh mượt bò lan kín mặt ruộng. Tất cả báo hiệu phía dưới lớp cát dầy là những chùm củ lạc sai như rễ cỏ dại! Đó là lý do gia đình anh cũng chẳng được liệt vào hạng giầu sang gì nếu không phải nói là một gia đình bần nông trong làng. Cuộc sống như co lại trong cái tiện tằn. Cái đặc biệt của gia đình này là anh Ình không hề đi làm mướn cho ai. Không hiểu có phải tính lười biếng hay an phận với cuộc đời. Vấn đề học vấn đã là hàng rào ngăn cách hẳn cuộc sống của anh với công việc đình đám trong làng. Dù ruộng nương chẳng nhiều nhặn gì nhưng họ vẫn sống. Anh sống an phận không ganh đua với làng với nước.

Khi anh Ình từ ngoài đồng về nhà. Anh nghe thấy tiếng trẻ khóc như đang bị câu xé. Anh biết vợ anh đã lâm bồn. Mặc dù những tiếng khóc của đứa trẻ mới vào đời, anh vẫn mặc kệ không vội vã để bước vào nhà ngay. Cái thái đô hững hờ dường như đã tạo thành một con người khô khan về tình cảm đối với vợ con và làng nước. Anh gác cuốc đằng sau nhà và lần mò xuống cầu ao rửa chân tay. Sau một ít lâu anh đẩy cánh liếp che cửa để bước vào nhà. Không hiểu tâm tình của anh lúc này ra sao! mừng vui hay hớn hở khi được gặp mặt vợ con.

Khung cảnh trước mặt làm anh bàng hoàng. Anh không còn giữ được vẻ thản nhiên nữa. Anh nhìn người vợ nằm ngửa tênh hênh, máu me đầm đìa khắp nơi. Chị Ình bất động. Làn da trắng bệch. Một tay chị nắm chặt như cố gắng níu giữ một cái gì không muốn bỏ ra hay vì những cơn đau hành hạ thể xác nên để cản đau bằng bàn tay yếu đuối cố co lại. Mái tóc đen xõa trên vai và chờm ra cả mép trõng. Anh Ình ngoảnh sang nhìn đứa bé đang khóc lặng đi. Anh vội vòng tay ôm nó vào lòng. Hơi hướm nóng ấm của người anh khiến đứa nhỏ im tiếng khóc. Cơn khóc của đứa nhỏ không biết từ lúc nào. Nên dù được ôm trong lòng người cha nhưng nó vẫn nấc từng hồi! Miệng nó luôn luôn cựa quậy như đòi hỏi. Có lẽ trận khóc kéo dài khiến mồm miệng nó khô cứng. Có lẽ nó thèm ăn, thèm bú không chừng. Nó đang tìm kiếm. Nhưng nó sẽ chẳng bao giờ tìm thấy cái núm vú của người mẹ từ khi nó được sinh ra đời và mai này trong những ngày thơ ấu của nó! Anh Ình ôm con trong lòng. Anh đưa tay sờ trán người vợ. Một cảm giác lạnh ngắt truyền lan từ cơ thể chị Ình sang anh. Anh vội rút tay về. Anh sợ hãi. Anh ném đôi mắt về phía chị để quan sát rõ ràng hơn. Đôi mắt chị vẫn mở thao láo. Anh lay vai người vợ. Một thân hình cứng đơ không động đậy. Anh buột tiếng gọi:

“Mình ơi! Mình ơi anh mới về đây này!” Anh lay vợ mạnh hơn. Miệng anh như mếu lại: “Mình ơi! mình ơi….” Tiếng gọi của anh như rơi vào trong im lặng.

Anh òa khóc. Tiếng khóc ấm ức, giận hờn, trách móc! Tiếng khóc nấc từng hồi!

Anh Ình ôm con chạy vội ra sân miệng hổn hển cầu cứu:

“Ối làng nước ơi. Ối làng nước ơi! Xin cứu vợ tôi, cứu con tôi! Cứu tôi với! Tôi có làm gì tội tình đâu! Ối giời đất ơi! Trời cao đất dầy! Nỡ lòng nào! Giết vợ tôi!”

  Tiếng kêu cứu của anh có hiệu nghiệm tức thời. Nó truyền nhanh từ nhà này sang nhà kia. Xóm làng vội vã đổ xô tới. Những bước chân xầm xập hướng về phía tiếng kêu của anh. Người làng xóm không ngần ngại. Họ quên đi khu nhà này là một nơi gần như cấm địa. Vùng đất đang có người hủi. Ai nấy đã mang nặng trong đầu không biết từ bao giờ. Người làng  không ai bảo ai cố lẩn tránh trong việc tìm một sự thân tình hàng xóm láng giềng với gia đình anh Ình. Nhưng lúc này Anh Ình đang cầu cứu. Anh cần đến mọi người. Mọi người không làm ngơ trước lời cầu cứu của kẻ đang hoạn nạn. Mọi người ùa vội vào sân. Tất cả nhìn thấy anh đang ôm một đứa trẻ trên tay. Nước mắt ràn rụa. Xóm làng đang vây quanh anh. Họ không biết phải làm gì. Người thì đông chen chật như nêm. Tất cả chỉ ngắm nhìn chẳng ai có một quyết định là họ phải làm gì. Họ sẽ giúp được anh như thế nào.

Bỗng có tiếng đằng hắng từ đằng xa phía ngoài cổng. Mọi người không ai bảo ai vội vã quay mặt hướng về phía cổng ra vào. Họ đã nhận ra đó là bác Cai. Bác dơ tay làm hiệu để mọi người tránh ra. Tất cả hiểu ý, mọi người vội vã dẹp sang một bên tạo thành một đường trống dành cho bác Cai bước vào. Vừa nhìn thấy Anh Ình ôm con trên tay, bác Cai dõng dạc hỏi ngay:

“Nghe nói thím ấy mới sinh phải không? Lành dữ ra sao! Thím ấy đâu? Ối giời ơi! Đứa bé mới sinh sao không giữ trong nhà mà lại đem nó ra ngoài thế kia! Gió máy chẳng tha ai đâu đấy nhé! Nếu trúng gió lại mang họa”

Anh Ình ấp úng cố gắng lắm mới lên lời:

“Bác ơi nhà em mất rồi!” Anh vừa nói vừa nghiến răng ken két, giận hờn như muốn đổ tất cả gánh nặng tội tình vào đứa con mới sinh ra đời: “Cũng tại con bé khốn nạn này đây! Nó đem tai ách đến cho gia đình em! Nếu không có nó đâu đến nông nỗi này!”

Bác Cai cũng cố ngăn xúc động:

“Chú nói gì? Thím mất ư! Thím ấy đâu? Chỉ nói nhảm! Liệu chú có tỉnh táo hay không đấy!”

Cũng vừa lúc đó thì bà Lang cũng bước vào. Bà Lang ở không xa nhà anh Ình, nếu không nói là chỉ cách có một bờ rậu. Nhưng cổng vào nhà của bà và anh Ình hoàn toàn khác nhau. Tuy chỉ cách có một hàng rào nhưng từ nhà nọ đến nhà khi cũng mất một quãng đường dài. Khi anh Ình kêu cứu thì bà không có mặt trong nhà. Bà đang đi hái cây, hái lá để đem về phơi khô làm vị thuốc. Khi bà quay về làng thì thấy mọi người tấp nập chạy đến nhà anh Ình. Bà không quên phải ghé về nhà để cất những cây hay lá bà hái được trước khi vội vã đến nhà anh Ình. Nhưng qua lời đồn đại bà cũng biết đầu đuôi câu chuyện một phần nào. Cái đặc biệt của người làng là hầu như làng xóm không ai đến nhà bà Lang để mua hay bốc thuốc. Không biết có phải vì bụt chùa nhà không thiêng hay không nên đa số những người bệnh của bà đều là người từ xa đến đây để xin coi mạch và bốc thuốc. Người làng xóm thường thờ ơ với công việc làm của bà.

Bác Cai nhìn thấy bóng dáng bà Lang bước vào. Bác như bắt được của. Bác vồn vã mời chào:

“Mau mau! Kìa bà Lang! Phải làm gì đây bây giờ!” Vừa dứt câu nói bác đã gay gắt nói lớn: “Bà con tránh ra xa cho bà Lang đi. Cứu bệnh như cứu hỏa đấy. Trăm hay không bằng tay quen. Cứ đứng đầy ra chắn hết lối vào”

Bác vừa đứt câu nói thì bỗng có tiếng ồn ào của dân xóm làng cũng trỗi dậy như reo mừng khi nhìn thấy bóng dáng một người đàn bà khác. Có tiếng buột miệng:

“Bà Tịnh!”

“Cô đỡ! Bà mụ làng!”

Người đàn bà có tên là Tịnh đang tất tả bước vào sân. Bà là bà mụ duy nhất trong làng. Tất cả trẻ làng đều do tay bà đỡ ra đời. Xóm làng dường như mang ơn bà để có được bầy đàn con cháu, mẹ tròn con vuông, lành lặn, hạnh phúc.

Có tiếng nói loáng thoáng trong đám đông hướng về phía bà:

“Tưởng bà có mặt ở đây từ sớm kia mà!”

“Ai biết được!”

“Từ xưa đến nay có đám sinh nở nào mà bà vắng mặt đâu nhỉ!”

“Thì thế, ai mà chẳng tin như vậy”

“Bà vừa ở vườn ông Thảo về”

“Để làm gì!”

“Hái lá làm thuốc chứ còn làm gì! Rõ là lẩm cẩm! Đần! Đần ơi là đần!”

“Ồ! Mà anh nói bà Tịnh hay bà Lang!” 

“Thì tôi nói bà Lang!”

“!!!!”

Bà Tịnh bước đi vội vàng mặt cúi xuống như tránh không nhìn mọi người đang bu lại trong sân. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong cuộc đời bà, bà đã không ra tay giúp đỡ người đàn bà trong làng khi sinh nở. Đó là chị Ình, chị đã không may mắn để được nghe những chỉ bảo dặn dò trước khi lâm bồn. Bà Tịnh chẳng nói năng gì tiến vội về phía anh Ình đang bế con. Bà dơ tay đỡ đứa nhỏ. Anh Ình nhận ra bà. Anh không từ chối vội vã đưa đứa bé cho bà. Bà chép miệng như trách móc:

“Đời thủa nhà ai lại để đứa bé như thế này! Còn sống sót là may!”

Dứt lời bà vén váy, chụm đôi chân ngồi bệt xuống mặt sân. Đôi chân khép lại và chiếc váy của bà đã tạo thành một chiếc  võng nhỏ cho đứa bé nằm êm ấm. Bà nhìn chiếc nhau đang lòng thòng dài lê thê. Như một thói quen tay nghề bà vung tay trái nắm chặt phần gần rốn đứa bé còn tay phải bà cuốn một vòng để thắt chặt dây nhau lại! Bà đã khéo léo để nút thắt gần sát với bụng đứa nhỏ. Công việc xong xuôi bà thở phảo nhẹ nhõm. 

Tay phải bà chống xuống mặt đất, tay trái bà gọn ghẽ giữ đứa trẻ trong lòng khuỷu tay để lấy đà đứng dậy. Bà nhớn nhác nhìn mọi người bao quanh. Bà quay sang phía anh Ình để hỏi:

“Chứ mẹ đĩ đâu!”

Anh Ình mếu máo:

“Mất rồi! Nhà em mất rồi!”

Bà Tịnh hỏi rồn rập:

“Cái gì! Chú nói cái gì?” Bà tỏ vẻ giận dữ: “Tao hỏi vợ mày đâu!”

Anh Ình nấc trong tiếng nói:

“Trong kia, kia kìa!” Nói đoạn anh dơ tay chỉ về phía cửa buồng che liếp kín không xa lắm.

Tất cả mọi người hướng về phía căn nhà đang đóng kín mít.

Cả hai người bà Lang và bà Tịnh vội vã tiến về phía căn nhà. Đám đông đứng trong sân gồm đủ cả lớn bé già trẻ, trai gái trong xóm. Bà Tịnh dơ tay làm hiệu:

“Hàng xóm láng giềng, đàn ông, đàn ang, con trai xin tránh xa không nên nhòm ngó nơi này. Chỗ này chỉ để đàn bà con gái chúng tôi thôi”.

Câu nói hiệu nghiệm, những chàng trai trong làng rãn ra xa chỉ có một số đàn bà con gái xô gần lại căn nhà.

Hai người đàn bà bước vội vào trong nhà. Khung cảnh hoang lạnh làm họ xựng lại! Những gộc tre đã tàn cháy, nguội lạnh. Giữa nhà chỉ để lại một nhúm tro tàn trắng phau. Một mùi tanh hôi đến lợm giọng đang bay lượn trong phòng. Những đàn ruồi nhặng đang bu kín trên những vũng máu đông đặc. Khi nghe có tiếng chân người bước vào khiến chúng ngưng hút mồi để đua nhau cất cánh. Tiếng ruồi nhặng làm không gian như bị khuấy động vì những tiếng vo ve, vù vù của ruồi nhặng đập cánh. Tất cả như muốn xà gần lên đầu lên mặt người vừa bước vào trong vùng yên tĩnh của chúng.

Cả hai người vội dật lùi lại và không tiến thêm bước nào. Họ đứng xựng ở đó để nhìn khung cảnh. Cả hai không quên dơ tay để xua đuổi ruồi nhặng đang xà trên đầu không biết để tìm chỗ  đậu hay tìm mồi. Họ nhìn thấy chị Ình nằm trên trõng, đôi tay duỗi dài. Trên mặt ruồi nhặng đang bám đen kịt.

Bà Lang dơ tay làm dấu để bà Tịnh đứng nguyên tại chỗ. Có lẽ công việc săn sóc người bệnh là một thói quen nên bà Lang đã cất tiếng nói hướng về phía bà Tịnh:

“Chị đứng đó đi! Để mặc tôi!”

Vừa dứt tiếng nói bà Lang tiến về chiếc trõng chị Ình đang nằm. Bà dơ bàn tay để kéo đôi mắt vẫn mở trợn trừng của chị Ình xuống. Tay trái bà không quên liên tiếp khua động để đuổi đàn ruồi nhặng đang vo ve lẩn khuất đâu đây. Bà vơ vội chiếc chiếu rách để phủ lên xác chị Ình đang nằm đó. Bà cũng không quên đẩy chị nằm ngay ngắn trên trõng. Sau đó bà bước dật lùi để quay ra.

Khi đến gần bà Tịnh bà Lang nói vội:

“Muộn quá rồi. Thánh cũng chịu! Chị em mình chẳng làm gì được!”

Cả hai bước từ trong nhà ra. Tất cả bên ngoài như chờ đợi, mong mỏi. Bác Cai vội vã tiến đến gần để đặt câu hỏi:

“Thế tình trạng chị Ình ra sao? Hai cô thấy thế nào?”

Bà Lang cất tiếng trả lời:

“Thì y như chú Ình đã nói đấy? Chị Ình mất rồi! Hồi nào không hay!”

Có tiếng xôn sao như chia xẻ nỗi buồn:

“Ồ tội nghiệp”

“Thím đâu có tật bệnh gì!”

“Chết trẻ quá!”

“Người ra đi nhưng còn kẻ ở lại thì sao đây!”

“Ai mà nuôi nấng cái con nhỏ kia nhỉ”

“Ôi thôi hãy lo mồ êm mả đẹp cái đã”

“Trời sinh voi, trời sinh cỏ”

“Nói như cô mày thì dễ như trở bàn tay!”

“Đời không phải vậy đâu nhé!”

Tiếng bàn tán nhen lên trong đám đông nhưng mọi người chỉ thì thầm với nhau cho họ đủ nghe mà thôi.

Đứng trước khung cảnh thôn dã này, trạng huống này mới thấy tình người nó bao la. Người ta tìm thấy một tâm tình thật. Một cảm tình sâu rộng của lòng người. Người ta quên hết những ấn tượng hiểm nghèo đôi khi đã làm họ sợ hãi. Cái tình thương nó mênh mang như  biển cả và quấn quyện như những nhánh sông dài để rồi cùng đổ vào một giòng sông cái! Cái ganh đua hay ích kỷ nhường chỗ cho những vị tha và cưu mang. Những tâm hồn quê kịch nhưng không kém bao dung. Họ biết phải làm gì và cũng sẵn sàng để làm hầu cầu mong làm nhẹ nghịch cảnh đang diễn ra trong một khung cảnh làng xóm. Họ luận bàn và không ngại ngùng mở vòng tay. Dân làng đã mở vòng tay để xoa dịu cơn đau đang đè xuống gia đình anh Ình. Tất cả những tâm hồn chất phác, chân thật biêu lộ một tình thương. Không tị hiềm, ghen ghét. Bản chất của những con người đã được sinh ra và lớn lên trong khung cảnh đồng quê. Họ biết kính trọng nhường nhịn. Một câu nhịn là chín câu lành. Họ thuộc làm lòng. Hận thù dường như không đất đứng trong làng mạc nhỏ bé này. Nhưng rồi gió không yên. Biển không lặng! Lòng người thay đổi chỉ vì ganh đua tranh giành. Khi bất thần một cơn bão đã nổi dậy đem sóng gió vùi dập tất cả những cái hay cái đẹp cái nhân tính của con người. Cơn bão tàn phai để lại hủy hoại đau thương! Mồ hôi nước mắt tràn đầy khắp nơi!

Việc tống táng chị Ình đã được làm ngay ngày hôm sau. Công việc trước mặt của anh Ình là việc nuôi dưỡng đứa con gái mới sinh ra đời. Xóm làng đã nhìn thấy những khó khăn của anh Ình trong việc này. Tìm đâu ra nguồn sữa để cung phụng cho đứa trẻ mới chào đời này. Trong làng cũng có một vài người vừa sinh con đẻ cái. Họ tình nguyện đem nguồn sống đến cho đứa nhỏ. Có người từ  xóm Trước hay xóm Cuối sẵn sàng dù mới sinh con cũng không ngại ngùng đến tận nơi để đem lại nguồn sống cho đứa trẻ bất hạnh này. Công việc cung hiến sữa của những bà mẹ trong làng chỉ có một giới hạn. Họ phải làm lụng sinh sống. Đầu tắt mặt tối. Một đôi khi thì được nhưng nếu nói đến sự thường trực hàng ngày thì thật khó khăn. Họ là những người dầm mưa dãi nắng có khi suốt một ngày trường đề cầy cuốc những thửa ruộng xa xôi. Trong người họ đầy nguồn sống, đầy những vú sữa căng thẳng không dùng đến đôi khi làm họ khó chịu là đằng khác. Người ta đã nhìn thấy những người đàn bà đôi khi phải ngưng nghỉ để vạch yếm bóp ngực đẩy những lớp sữa dư thừa ra khỏi người không luyến tiếc. Những nguồn sống tươi tắn được bắt buộc phải tưới trên những thửa đất khô cằn hay mầu mỡ không biết có đem lại đây một nguồn lợi bổ ích cho cây cỏ không. Nhưng bảo nghỉ làm đề về làng cho con bú hay cho con anh Ình chút sữa dư thừa là chuyện khó khăn. Dù những tâm hồn chất phác không ẩn náu những lợi lộc hay vị kỷ.

Người ta nhìn thấy anh Ình bế đứa nhỏ chạy đôn chạy đáo từ đầu làng đến cuối làng để tìm nguồn sống cho đứa trẻ. Ngày này qua ngày nọ. Thân thể đứa trẻ không tăng trưởng được bao nhiêu. Đôi khi cứ bé dần đi vì không ai biết nguyên nhân. Có người bảo nó thiếu dinh dưỡng, thiếu tình thương. Nên không bụ bẫm như những trẻ khác trong làng. Nhưng chẳng ai để ý đến những bữa ăn thất thường khi có khi không của đứa nhỏ. Hay những khác biệt về nguồn cung cấp sữa có hợp với nhu cầu thân thể nó đòi hỏi hay không. Anh Ình nhìn đứa nhỏ trong buồn phiền. Chiếc đầu nó dường như cứ lớn dần trong khi thân xác nó khẳng khiu, gầy guộc. Thân thể không cân đối. Đôi cánh tay chẳng khác ống xậy. Đôi chân cũng chẳng lớn hơn bao nhiêu! Mầu da xanh mét không tìm đâu được những nét hồng hào của một trẻ thơ.

Anh Ình đã cầu cạnh nhiều người trong làng nhưng anh quên mất người hàng xóm gần gũi nhất của anh là bác Lý. Bác Lý là Lý trưởng của làng. Nhà bác trước mặt nhà anh. Hai ngôi nhà đối diện với nhau. Nhưng không gần, chúng cách nhau hai cái ao. Hai ao ngăn cách một bờ ngòi. Trên bờ ngòi một vài hàng tre lưa thưa. Nhưng dù thưa nhưng đi trên đường cái người xóm làng cũng không nhìn rõ từng chi tiết phía trong ngôi nhà của Anh Ình. Người ta chỉ nhìn thấy ba ngôi nhà nằm trên một thửa đất cao. Trước mặt nhà là một ao cá sâu. Nước trong vắt. Muốn xuống ao để tắm hay rửa ráy phải qua những bậc đất được đào sâu hoắm vào thềm vườn. Cầu ao là ba đọn tre khô ghép vào nhau đặt trên một trạc hai cây tre cắm sâu xuống nòng ao. Ngôi nhà chính giữa là nhà thờ tổ tiên. Anh Ình chiếm căn nhà thứ hai. Căn nhà hướng Tây nên buổi chiều đến vào mùa hè không ai giám ở trong nhà vì cái nắng thiêu đốt cứ như ngọn lửa đỏ hực chiếu vào nhà. Căn nhà đối diện là người em gái anh Ình ở. Người em gái anh bị bệnh nan y. Bệnh hủi.   

Ngày chị Ình bị nạn bác Lý trai phải lên Huyện để trình quan về việc công nên không có mặt. Nhưng khi về nhà chính bác đã lo liệu công việc giấy tờ khai tử cho chị Ình. Chức vụ trong làng và của cải tiền bạc đã khiến có sự cách biệt hẳn giữa anh Ình và bác Lý. Anh Ình thường không khi nào giám mon men để truyện trò với bác Lý. Mỗi lần rời nhà ra đồng làm việc anh chỉ ngước nhìn ngôi nhà gạch của bác Lý qua chiếc cổng gỗ xây đồ sộ cao lớn. Nơi đây cũng chính là căn nhà mà họ Vũ đã lưu ngụ mấy đời.

Vũ Hữu Mục là ông tổ và là người đầu tiên đã định cư tại làng này. Cụ Mục làm nghề săn vịt trời. Huyền thoại truyền tụng rằng vào một năm bỗng nhiên có một đàn vịt trời khổng lồ từ mạn ngược bay về xuôi. Đàn vịt trời đã đáp xuống một cánh đồng lúa xanh để kiếm mồi. Chúng nhiều vô kể và đông như một đàn ong vừa vỡ tổ. Chúng đã đáp đúng vào tấm lưới của cụ. Chỉ cân tung những mạng lưới ghim sẵn là  bắt được cả đàn. Bầy đàn nằm trọn trong ổ lưới. Đếm không xuể. Chúng nhiều đến nỗi không có chỗ nhốt. Cái câu nói Đại phú do Thiên và Tiểu phú do Cần quả là không ngoa lắm. Trong một ngôi làng nhỏ Cụ đã thành một phú ông chỉ một sớm một chiều. Với tiền bạc này cụ đã tung ra để muavruộng đất trong làng. Những thửa ruộng mầu mỡ nhất và tốt nhất trong làng đã thuộc tay cụ. Cụ mất đi và để lại tài sản cho con cháu. Bác Lý là người cháu đích tôn giòng họ Vũ. Bác đã được học chữ Nho và đồng thời chữ Quốc ngữ nữa. Vào thời điểm này tìm được một người có đủ khả năng ngôn ngữ như chữ Nho và Quốc ngữ không phải là dễ. Bác Lý đã có đầy đủ cả học vấn kể trên. Như vậy cũng vẫn chưa được coi là hoàn toàn đủ nếu muốn được bổ nhậm chức vụ trong làng để đảm nhiệm công việc quan trên giao phó còn phải có đủ lý lịch là đương sự còn phải sống ở đây ít nhất là ba đời. Quan niệm nghe ra rất cổ điển nhưng thực ra với thời gian nó vẫn trở thành thông dụng và được tôn trọng. Có lẽ muốn đảm nhiệm một chức vụ chỉ huy người đó phải có đủ cuộc sống từ đời này đến đời nọ để thông hiểu cái phong tục và am hiểu luật vua, lệ làng cùng các phong tục địa phương nơi chính mình cư ngụ. Đó chính là lý do bác đã được chính thức bổ nhiệm vào chức vụ Lý trưởng của làng để lo công việc Hành chánh cũng như thi hành Luật pháp do Vua ban ra và truyền đến người dân ở những nơi hẻo lánh, làng mạc xa xôi. Bác là người mà giới chức công quyền đang nhằm và tìm kiếm. Có lẽ vì chức vụ nên cả làng không bao giờ gọi tên húy của bác. Người ta đã tránh gọi tên thực bác nên hễ nói đến bác Lý là người làng hiểu ngay người đó là ai.

Vào cuối mùa xuân cũng năm đó, bác Lý gái đã sinh đứa con trai thứ tư trong gia đình. Bác gái mắn đẻ. Bác sinh toàn con trai. Đứa con thứ tư của gia đình bác Lý được chào đời và đã được bác Lý gái nuôi nấng bằng chính sữa mình. Có lẽ khung cảnh giầu sang, cửa cao nhà rộng đã khiến bác Lý gái ít xuất hiện ngoài đường ngõ. Hôm Chị Ình gặp nạn, bác Lý về bên ngoại chơi mấy ngày nhân dịp bác Lý trai phải lên huyện về việc quan. Bác đã không chứng kiến cảnh thương đau diễn ra. Nhưng sau đó Bác gái đã thấu hiểu đầu đuôi câu chuyện của gia đình anh Ình. Đứa con trai bác cũng gần được đầy năm nhưng vẫn đè mẹ ra bú chùn chụt. Chiều con bác không cai sữa nên thừa đủ sữa để nuôi con.

Vào một buổi sáng từ trong nhà mở cổng bước ra ngoài ngõ bác Lý gái bắt gặp anh Ình đang bế con chạy hớt hơ hớt hải trong ngõ để vào đường cái. Tiếng khóc của đứa bé như chết lặng đi. Có lẽ sau một đêm ngủ dài nó không được ăn uống gì hay không có một giọt sữa nào vào trong bụng nên đói khát và đòi ăn. Anh Ình vừa bế đứa bé vừa vung tay để đu đưa qua lại như ru nó hòng mong đứa bé im tiếng khóc. Nhưng vô hiệu. Nó càng khóc nhiều hơn. Vội vã bước đi khiến anh thụt chân vào chiếc hố vết chân trâu. Anh ngã phủ phục trên mặt ngõ. Đứa bé văng khỏi tay anh và rơi bịch xuống mặt đất.

Nhìn thấy khung cảnh này bác Lý gái chạy vội lại phía hai cha con anh Ình, rồi bà cất tiếng trách móc ầm ĩ:

“Đi đâu mới sáng bảnh mắt ra mà vội vàng đến thế. Thì cũng phải nhìn trước ngó sau chứ! Tội nghiệp con nhỏ không kìa! Rơi rớt như vậy chẳng biết có bị gẫy xương gẫy cốt gì không. Người đâu mà vô ý vô tứ đến thế là cùng! ”

Vừa dứt câu nói bác Lý gái vội vã bế đứa bé nằm chơ vơ trên mặt đất. Bác ôm đứa bé trong lòng và quay mặt đi hướng khác để nhanh  nhẹn vạch yếm và kề chiếc vú vào miệng đứa nhỏ. Đứa bé ngoạm chặt vú bác Lý, miệng mút lấy mút để. Nó nín khóc. Nhưng dư âm tiếng khóc vẫn còn, nó nấc lên mỗi khi gắng sức để nuốt những ngụm sữa đầy trong mồm. Để nó khỏi bị sặc sụa, bác Lý bóp vú mình ngăn bớt làn sữa ào ạt chẩy ra. Giây phút trôi qua tiếng khóc im bặt. Đôi mắt đen nhánh của đứa trẻ bắt đầu lim dim. Tất cả biểu tượng nó đang được thưởng thức một bữa bú đúng lúc. Có lẽ chưa bao giờ nó được bú một lần bú ngon lành như vậy!

Anh Ình lồm cồm đứng dậy. Anh không quên phủi bụi đất cát dính bê bết trên người. Anh lí nhí buông lời cám ơn:

“Thật phúc đức, bác đã giúp em! Giúp cháu! Cháu nó côi cút thật tội! Em gà trống nuôi con biết trông cậy vào ai đây! Chỉ mong xóm làng mở lượng từ bi họa may con bé mới còn sống sót! Qua cơn hoạn nạn!” 

“Cái chú này! ơn với huệ gì? Mấy ngày nay cứ định xuống dưới chú để bảo cho biết là mang con bé lên tôi cho sữa! Nhưng cứ lần nữa mãi hôm nay mới nhìn thấy mặt chú đấy! Tội nghiệp nó! Người gì mà gầy khô như con cá mắm ấy!” 

“Em sợ phiền hai bác! Bế cháu qua cửa nhà hai bác mà không giám gọi! Được lời bác cho phép em xin cắn cỏ ngậm vành! Ơn nào trả cho hết đây!”

“Gớm cái nhà chú này! Đã bảo không phiền hà gì hiểu không! Tôi sinh đẻ đã năm bẩy lần! Nuôi con cũng vài bốn đứa rồi. Có thêm con nhỏ này cũng đâu có nhằm nhò gì mà lo!”

“Xin lãnh ý bác và cũng xin bác gửi lời thăm hỏi bác trai nữa!”.

Bác Lý gái kéo miệng con nhỏ ra khỏi vú mình nhưng nó cứ cắn chặt như gắn vào ngực bác. Bác vuốt nhẹ ngực con nhỏ và thủ thỉ như nhắn nhủ đứa nhỏ:

“Thôi đủ rồi cô ơi! Ham bú quá lại sựa ra hết bây giờ! Không bõ công! Muốn ăn sữa nữa phải đợi đến trưa nhé! Bố mày sẽ bế lên tao sẽ cho bú tiếp!”

Dứt lời bác kéo vú ra khỏi miệng con nhỏ. Nó há miệng đỏ hỏn vẻ thòm thèm sau một bữa bú no nê. Bác không quên đặt câu hỏi với anh Ình:

“Vậy chứ cháu nó sinh được mấy ngày rồi chú nhỉ?”

Anh Ình trịnh trọng khoanh tay vẻ khúm núm:

“Thưa bác! Cháu nó sinh đâu cũng được mươi ngày rồi đấy.” Vừa đáp anh vừa dơ tay lên gãi đầu.

Bác Lý gái nhìn thái độ khúm núm của Anh Ình, bác liên tưởng đến cuộc sống khó khăn anh đang trực diện. Bác đã nẩy ngay ý định đem cho con người đang gặp hoạn nạn một nguồn hy vọng. Bác nói nhỏ nhẹ nhưng vẻ đảm bảo:

“Cũng chẳng dấu diếm gì chú! Thằng cháu thứ tư con tôi nó cũng bắt đầu ăn cơm mớm rồi. Sữa của tôi cũng vẫn còn có thể giúp cháu đây vài ba tháng nữa” Bác cả nói đến đây sợ anh Ình buồn phiền lo sợ chuỗi thời gian dài còn trải rộng trước mặt nên cố an ủi: “Ôi dào đến đâu lo đến đó. Nghĩ xa chỉ thêm mệt! Thôi đây bế cháu đi!” Nói rồi bác đưa tay trao trả đứa bé cho anh Ình.

Anh Ình đã tìm được nguồn nuôi sống cho đứa bé thật bất ngờ. Anh không ngờ bác Lý đã dễ dàng nhạn giúp đỡ anh trong suốt thời gian dài. Anh biết đời sống của bác Lý dư dật, không phải tối mặt tối mũi hay đổ  mồ hôi kiếm miếng ăn nên anh đã vững lòng. Con anh đã có chỗ nương tựa. Anh ôm đứa bé vào lòng. Anh nhìn con nhỏ. Niềm hy vọng biểu hiện rõ ràng trên bộ mặt xương xẩu. Anh lí nhí nói:

“Em xin bác cho cháu lậy bác vài lậy mới phải phép! Ân tình này nó phải ghi tạc đời đời mai này khi nó lớn lên thành người!” Vừa dứt lời anh Ình vội bế xấp con nhỏ để làm một hành động lễ lậy.

Bác Lý gái vội vàng xua tay:

“Không giám! Thôi đừng bầy vẽ chú! Bắt tội nó! Nó thơ ngây đâu có biết gì! Tôi không nhận đâu nhé! Này đừng có úp sấp con bé thế. Nó vừa bú xong! Chú làm nó sựa ra hết bây giờ!”

Nghe bác Lý gái nói, anh Ình hoảng hốt vội vã đem đứa bé về tư thế ngay ngắn và nói vội: “Nó nhỏ bé không biết gì nhưng em xin thay con ghi lòng tạc dạ công ơn đời đời của bác đã đem cho nó nguồn sống!”

Bắt đầu từ hôm đó trở đi, mỗi ngày anh Ình lại khệ nệ bưng đứa bé đến cổng nhà bác Lý để đợi chờ. Anh không giám gõ công. Anh sợ làm phiền gia đình bác. Anh cũng sợ đôi chó của gia đình bác Lý. Nhìn hàm răng chó nhe ra gầm gừ dữ tợn với bất cứ ai định vào nhà trông mà hết vía. Anh ngoan ngoãn đợi chờ cho đến khi cánh cổng gỗ mở rộng và bác Lý gái xuất hiện. Bác Lý gái làm công việc cho sữa một cách đều đặn và đúng giờ giấc hàng ngày. Anh chỉ việc trao đứa bé cho bác gái để bác đem đứa nhỏ vào nhà trong cho nó bú. Còn anh lủi thủi ngồi bên cạnh bờ ao để chờ đón đứa con được trả lại sau khi bú sữa no nê. Tháng ngày qua, đứa bé đã bụ bẫm hẳn lên. Mặt mũi nó hồng hào của môt đứa trẻ được nuôi dưỡng đầy đủ. Anh Ình nhìn con mừng vui hiện rõ rành trên khuôn mặt gầy guộc qua đôi má sâu hoắm theo tháng ngày.

Kể từ ngày chị Ình mất, xóm làng bớt lạnh nhạt với gia đình anh. Người lui tới thăm hỏi đông hơn trước. Kẻ ra người vào tấp nập. Họ không ngần ngại mang đến cho anh Ình những quả bầu, bí, mướp hay những mớ rau cỏ hái từ ao hay vườn của mình làm quà cho một gia đình bất hạnh này. Những cảm tình nồng ấm của người xóm làng biểu hiệu tất cả những tấm lòng cưu mang trong một ngôi làng nhỏ. Họ đã sống tại đây đời này qua đời khác. Họ đã biết nhau tường tận nếu không nói từng li từng tí về nếp sinh hoạt và đời sống của mỗi gia đình. Cũng vì vậy họ quí mến và thành thật với nhau. Không tị hiềm hay ganh ghét.

Cái đặc biệt phải nói về làng xóm là đa số những dân làng đều sống bằng nghề nông. Ruộng nương thẳng cánh cò bay. Nhìn ngút ngàn con mắt. Mùa nước đến chỉ thấy một khung trời trắng xóa, sóng vỗ ào ạt vào bờ ruộng. Không ai phân định được đâu là ruộng của mình hay đâu là ruộng của người. Họ hoàn toàn tin cậy vào những đùm sậy mọc lại từng khóm một để phân định danh giới ruộng nương của mình. Mùa hè đến những hàng ngô xanh mướt ngập cả đầu người như che kín tất cả đồng ruộng. Đứng trên đường cao thả mắt nhìn xuống đồng ngô người ta cũng không làm sao phân định được đâu là bờ và đâu là ruộng của mình! Cái trù phú của làng là thế. Nhưng ngôi làng cũng chẳng xa thị thành là bao. Chỉ cách Hà Nội 65 cây số ngàn. Đó là lý do một số dân làng đã không chịu dầm mưa dãi nắng để làm ruộng. Họ đã lần mò để ra tỉnh. Họ là những người gan dạ giám châp nhận một cuộc phiêu lưu khi bỏ nghề cầy sâu cuốc bẫm để biến thành người thị thành, người Hà Nội. Dường như những ai gan dạ đều thành công. Họ trở về làng như những ông nghè vừa giật được bảng vàng sau mùa thi cử. Dân làng ở xa về không có bảng vàng trong tay nhưng họ có nghề nghiệp, có tiền bạc rủng rỉnh. Họ là những lớp người mới của làng xóm. Dù xa nơi trôn rau cắt rốn nhưng một khi thành công họ đã quay trở về để không quên nơi họ đã được sinh ra đời.  Những người này đem đến cho làng xóm một khuôn mặt mới. Những ngôi nhà tây, nhà ngói loáng thoáng xuất hiện chen vào những ngôi nhà tranh vách đất cũ kỹ.

Một trong những người thành công là bác Cai. Tên thật của bác không ai biết. Tất cả dân làng đều gọi bác là bác Cai. Bác Cai làm thợ điện. Bác làm thợ điện từ nhỏ và dần dà bác không phải làm công việc của người thợ nữa. Bác được ban giám đốc nhà máy điện thành phố Hà Nội cất nhắc bác lên chức cai. Chức cai, cai quản một số công việc, một số thợ làm theo lệnh của các thượng cấp ban hành. Bác lo sắp xếp công việc của nhà đèn cho những người khác. Tuổi đời càng cao thì bác càng thấu hiểu công việc, nhiệm vụ. Đắc lực trong phần vụ của mình được trao phó nên đời sống của bác cũng khác đối với người khác. Bác được tưởng thưởng xứng đáng. Bác được ban phát nhà cửa để ở. Đời sống đã đi đến chỗ vương giả là đằng khác. Bác được uống rượu mạnh từ mẫu quốc đem sang. Ăn bánh mì và uống cà phê sữa thay vì ăn cơm gạo trắng nước chè. Năm tháng trôi đi. Tuổi bác cũng đã lớn. Tiền bạc dư dật. Bác đã về hưu trí. Bác đã rời bỏ thị thành, rời bỏ Hà Nội để về quê hương nơi chôn rau cắt rốn để tiếp tục cuộc sống những ngày còn lại của cuộc đời. Nhưng những thói quen nếp sống thị thành đã ăn sâu vào con người bác, bác thèm bơ sữa khi lưu ngụ tại vùng quê thanh vắng. Trước đó bác dành đôi tháng để đi Hà Nội tìm lại nếp sống xa xưa. Nhưng cuộc di chuyển đã làm bác không mấy hài lòng vì đoạn đường xa tắp và xe pháo thì không mấy êm ả trên đường trường. Bác còn nhớ hồi đương thời và lúc ở địa vị cao nhất của nghề nghiệp bác đã nhìn thấy những người Ấn Độ sinh sống bằng nghề vắt sữa dê để cung cấp cho những người khách có đời sống dư dả như bác. Bác đã được hưởng những ngụm sữa tươi đó. Nó ngon ngọt, béo bùi ngầy ngậy. Thật là tuyệt vời. Bác không bao giờ quên được hương vị đó. Nay xa thành phố, bác luyến tiếc, nhớ nhung, thèm thuồng. Mỗi buổi sáng dậy bác có cốc cà phê nóng, mùi hương thơm quấn quyện và vị ngọt ngào của nó nhưng nó thiếu những giọt sữa tươi khiến bác cảm thấy kém thích thú.

Dù sống nơi thôn dã nhưng bác cũng có đủ tiền bạc tiêu pha. Bác muốn tìm lại cái hương vị của những giọt sữa tươi. Nhưng bác thúc thủ! Nhìn thái độ nhăn nhó, băn khoăn của người chồng bác Cai gái hiểu ý chồng muốn gì! Vào một buổi sáng bác gái pha cốc cà phê đem đến cho chồng và không quên nói nựng:

“Bố mày uống cà phê không sữa thấy sao?”

Bác trai nhăn mặt đáp lời:

“Biết làm sao! Không có thì đành chịu chứ sao!”

Bác gái nhìn chồng âu yếm để nói:

“Vườn tược thênh thang, cỏ giả đầy ra đấy! Bố mày không thấy à?”

“Ai chả biết vậy! Mẹ mày muốn nói gì?”

Bác gái lại cười mỉm. Nụ cười đầy vẻ yêu thương:

“Thì đi Hà Nội mua vài con dê giống về mà nuôi! Thả nó ra vườn kìa! Mai này mặc sức mà ăn mà uống sữa! Có vậy thôi! Còn đắn đo gì nữa đây! Gớm còn muốn được hầu được hạ đến chừng nào nữa đây!”     

 Bác Cai trai cười tươi và không quên nói vội:

“Ồ! Mẹ mày giỏi và thông minh quá! Mình ơi! Dễ thế mà tôi không nghĩ ra đấy!”

Câu chuyện nuôi dê của gia đình bác Cai đã xẩy ra trước tai nạn của vợ anh Ình. Ngôi nhà ngói của bác Cai nằm trên một thửa đất rộng mênh mang. Thửa đất ao cá hiện tại của bác Cai cũng là tài sản hồi môn của cụ Mục đã để lại cho mẹ vợ bác Cai trai. Bà Từ Biền thừa hưởng tài sản này và cho lại người con gái. Nhưng đên đời bác Cai về ở thì khu vườn rộng này được chăm sóc và sửa sang lại để hợp với ý muốn của bác. Vả lại qua nhiều năm tháng làm việc bác đã có của ăn của để. Vùng sân rộng được cẩn gạch bát tràng đỏ ối! Chiếc cầu ao cũng được xây gạch và có từng bậc được ghép với những hàng gạch xếp nghiêng trông thật đã con mắt. Dưới ao sâu cá mú cả đàn đủ giống đủ loại. Bầy cá đã được mua mỗi độ nước sông Hông dâng cao và đem về đây để nuôi. Cá chầy, cá chép, cá mè, cá trắm đua nhau thởn thơ ngoi trong dòng nước. Muốn ăn chỉ việc kéo một mẻ vó là có cá ăn cả tháng. Trên bờ vườn tược có một cặp dê đực và vài ba con dê cái đang kêu be be để gọi nhau hay  đua chạy trong thửa vườn thênh thang. Bầy dê được nuôi trong vườn cỏ xanh nên béo mập đẫy đà. Những làn lông tơ óng ả chứng tỏ chúng đã được nuôi dưỡng đầy đủ nếu không nói là thừa mứa cỏ giả cho chúng ăn hàng ngày. Nhìn bầy dê trong vườn cho ta một khung cảnh thanh bình giầu sang của bác Cai. Kể từ ngày bác Cai đem được bầy dê giống từ Hà Nội về bác đã thỏa thuê mỗi buổi sáng với cốc cà phê sữa đầy.

Mặt bác Cai đỏ tựa quả gấc chín. Mớ tóc trắng như cước và hàm râu được chăm tỉa hàng ngày. Phong thái của người thật thừa mứa và giầu sang. Xóm làng kính trọng bác. Những ngày nhàn rỗi bác đi la cà hang cùng ngõ hẻm của làng. Nói về họ hàng thì bác lại là anh rể của bác Lý trai. Bác gọi hai bác Lý là chú và thím. Chú thím Lý vẫn được coi là thượng khách của bác và thường là được gia đình bác Cai mời đến nhà vào những dịp ngày tư ngày tết. Và mỗi lần đi Hà Nội về là bác Cai không quên đem một món quà nhỏ về để tặng gia đình người em rể có quyền thế vào thời đó đối với làng với nước.

Con ngõ vào nhà bác cũng đâm xéo vào cạnh nhà bác Lý. Nên mỗi khi bác Cai ra khỏi nhà là có dịp phải đi qua nhà bác Lý.

Thế rồi vào một buổi sáng bác rời nhà để ra thăm đồng bác Cai đã bắt gặp anh Ình đang bế con đợi trước cổng nhà bác Lý. Bác Cai không quên tiến lại gần anh Ình để thăm hỏi:

“Thấm thoắt đã đến trăm ngày chị ấy chưa đấy nhỉ! Ôi chao con bé độ này trông xinh đẹp bụ bẫm đáo để nhỉ! Anh khéo nuôi con đấy chứ!”

Anh Ình ngượng ngập, lúng búng đáp lời:

“Thưa bác cháu nó được như vầy là trăm sự nhờ bác Lý đây cả đấy. Không có bác làm sao nó có lúc này!”

Bác Cai se sẽ cất tiếng “Ồ!” rồi nói tiếp:

“Hèn gì! Tôi hiểu! Thím Lý đây khéo nuôi con lắm đấy! Đứa nào đứa nấy mạnh khỏe tựa voi!” Chưa dứt lời bác đã nói tiếp: “Chứ con cháu này cũng lớn rồi nếu anh có cần thêm sữa để cháu ăn tôi sẵn sàng tặng chút ít? Anh nghĩ sao?”

Anh Ình chưa nắm được ân huệ mà bác Cai muốn gửi tặng anh. Anh lững lờ trong câu hỏi:

“Thưa bác?”

Bác Cai ôn tồn giải thích thêm:

“Tôi muốn nói cháu bé mỗi ngày mỗi lớn. Hôm nay nó ăn vậy nhưng ngày mai nó đòi ăn nhiều hơn. Nhà tôi mỗi ngày sữa dê dư dả. Nếu anh cần sữa cho cháu ăn thêm cứ xuống tôi. Sữa tươi đấy. Mấy con dê lái vú đầy sữa. Dùng chẳng hết, bỏ đi phí của giời!”

Đến lúc này anh Ình mới vỡ lẽ. Đôi mắt sáng ngời. Anh vò đầu biểu lộ nét mừng rỡ. Anh nhớ bác Lý gái nói bác chỉ có thể cho con bé bú đôi ba tháng mà thôi. Kể từ ngày đó đến nay bác không nhắc lại nhưng anh nhớ như in trong đầu. Quả là chết đuối vớ được cọc. Anh nhìn bác Cai đầy vẻ kính trọng và anh không quên nhắc đi nhắc lại lời cám ơn rối rít.

“Xóm làng thương gia đình em, đối xử mặn mà. Các bác lại luôn luôn nghĩ tới cháu. Quả thật tất cả là ân nhân một đời! Ân huệ này không biết đến kiếp nào em mới trả hết đây!”

Bác Cai dến người cao hơn một chút và cũng nghiêng nghiêng đầu  để liếc nhìn rõ mặt đứa bé trong tay anh Ình. Bác thong thả nói:

“Nhưng này! Tôi nói anh hay! Sữa dê tươi thì có tươi nhưng nó có mùi ngai ngái, nồng nồng đấy. Mới ăn lần đầu thì cảm thấy khó nuốt hay không ham đâu. Đôi ba lần hay vài ngày sau thì quen đi. Hễ mà quen thì lại đâm ra thích. Kinh nghiệm của tôi lúc đầu cũng thế. Cá nhân tôi đã thử sữa bò tuy nó không có mùi nhưng đến khi đánh đáo đầu lưỡi thì thật ra sữa dê đầm và béo ngầy ngậy hơn nhiều. Cứ cho cháu ăn thử! Không chừng phải ép nó nữa trong vài buổi đầu nhưng một khi quen nó sẽ thích!”

Anh Ình lắp bắp cám ơn lấy cám ơn để.

Bác Cai khoa tay ra hiệu:

“Sữa dê tươi có sẵn, muốn lấy lúc nào cũng được! Nếu xuống dưới tôi không gặp tôi thì nói bà ấy một tiếng là xong! Nghe anh!”

Nói rồi bác Cai bỏ anh Ình ôm con chờ đợi trước cổng nhà bác Lý. Bác vén quần bước vào đường cái để thong thả và lang thang trên cánh đồng rộng.

Kể từ ngày đó anh Ình đã có nguồn cung cấp sữa dê để nuôi cho đứa con gái. Công việc chầu chực để đem con đến đợi ở cổng của bác Lý cũng thưa dần. Anh Ình cũng không quên trình bày những gì bác Cai đã nói với anh. Bác Lý gái nửa vui mừng nửa đỡ được phần nào gánh nặng nên đã nói:

“Con cháu nó tốt số lắm đấy và tôi hy vọng mọi việc sẽ êm đẹp cho nó bây giờ và mai sau!”

Đứa con gái đã lớn dần. Nó đã trải qua từng giai đoạn một. Nó biết đi, biết đứng. Nó bon bon chạy nhẩy trên vùng sân đất trước ngôi nhà nó chào đời. Anh Ình ngồi trên thềm nhà nhìn con chạy nhẩy. Anh mừng vui buồn phiền lẫn lộn. Đôi khi vì việc đồng áng anh bỏ nó ở nhà một mình. Đứa nhỏ lang bang hết trong nhà lại ra ngoài sân. Nhiều khi nó đói ăn mà không được ăn, khát nước mà không được uống! Dù chỉ là một ngụm nước lã. Thân hình nhỏ bé không đủ sức để leo lên trên chiếc chum đựng nước hứng nước mưa từ gốc cau nằm chơ vơ trên sân nhà. Năm tháng cũng dây nó khôn ngoan hơn. Nó lang thang và nhặt được một chiếc ống bơ. Nó đã dùng những sợi dây bóc từ bẹ chuối khô để cột vào ống và thả xuống chum nước kéo lên. Nó vội vã ngó trước nhìn sau trước khi chúc miệng vào ống bơ để hớp những ngụm nước ngọt mát lạnh. Nhất là vào những ngày hè thì không còn gì thích thú bằng. 

Vào một hôm bác Lý gái đã nhìn thấy nó không mặc quần và chỉ có một chiếc áo cụt lủn để hở tơ hơ cả rốn lẫn bụng cùng hạ bô phía dưới. Trên mặt hai dòng mũi xanh ngắt đang nằm trên môi như hai con giun to. Nó đang cắn vạt áo đứng trước ngõ chờ đợi anh Ình về. Bác vội vã chạy vào nhà lấy một chiếc áo cũ khá dài và cũng không quên nắm một nắm cơm vừa thổi xong đem ra đưa cho nó. Nó nhìn bác. Nó e thẹn ngại ngùng không giám nhận. Hiểu ý, bác Lý phải ôm nó vào lòng để tỏ vẻ âu yếm nó mới dơ tay đón nhận. Nó cầm nắm cơm đưa lên miệng để vừa nhai vừa nhìn bác. Bác cười và se sẽ cù vào người nó để đem lại một hành động thân thương. Nó cất tiếng cười khanh khách và như hòa mình với cảm tình mà bác đã dành cho nó. Bác Lý gái thả nó xuống đất và mặc vôi chiếc áo cho nó. Chiếc áo khá dài che gần kín chân nó. Sau đó bác Lý dẫn nó vào nhà. Bác dặn dò:

“Nhớ  ở trong nhà đợi bố cháu về nhé! Không ra ngoài đường nhỡ ngã xuống ao mà không có ai nhìn thấy thì khốn! Ao nhà bác và ao nhà cháu sâu lắm, ngập đầu người lớn chứ không nông đâu!”.  

 Nó hiểu ý và nghe lời. Nhưng nó cũng khôn ngoan hễ khi nào đói và khát là nó ra chầu trực ngay đầu ngõ để đón người qua lại không ngoài ý định được nhận những ban phát của người trong xóm làng. Hoặc lần mò đến tận cổng nhà bác Cai đứng chờ. Nó không giám rung chuông vì sợ bầy chó giữ của bác Cai. Đôi khi bác Cai nhìn thấy nó là nó đã được tặng một chai sữa dê đầy và hãy còn nóng.Cuộc đời của nó cứ kéo dài và tuần tự  như vậy.  Hết chạy ra ngoài rồi vào trong nhà và thơ thẩn mãi nó cũng chán. Hàng ngày nó vẫn nhìn thấy  căn nhà trước mặt. Nhưng căn nhà luôn luôn đóng cửa kín. Ít khi nó bén mảng đến vùng đất gần đó.

Nó cũng biết người đàn bà ở trước mặt căn nhà của bố con nó ở là ngôi nhà của người cô. Nó chưa đủ sức để phân định mối tương quan họ hàng giữa bố nó và bà cô như thế nào. Nó không bao giờ được người đàn bà ở căn nhà đối diện với nơi nó ở bầy tỏ âu yếm hay trìu mến. Tuổi đời non nớt nó cũng không đủ sức phân biệt thế nào là bệnh hoạn, thế nào là nguy hiểm. Nó chỉ thấy căn nhà trước cửa luôn luôn đóng kín mít và người đàn bà ở bên trong  ít khi ra ngoài. Có lần nó đánh bạo đến gõ cửa để tìm hiểu về người mà bố nó bảo là cô nó. Tiếng gõ cửa của nó có hiệu nghiệm. Người cô xuất hiện. Người cô che khăn vải và trùm kín từ đầu đến chân chỉ để hở đôi mắt. Khi nhìn thấy nó, người đàn bà vội khép cửa lại chỉ để hở một khe nhỏ. Nhưng ngay sau đó người đàn bà này đã dơ tay xua đuổi nó và không cho phép nó bước vào nhà. Nó lại lủi thủi một mình chạy ra ngõ để ngắm người qua kẻ lại.

Người em gái anh Ình có tên là Sơ. Cô Sơ  luôn khép kín cửa và sống cách biệt hẳn với nếp sống xóm làng. Cô mắc một chứng bệnh mà xóm làng không ai giám tới gần. Bệnh hủi.  Mỗi khi ra ngoài cô đi một đôi guốc bằng củ tre cao đến cả tấc. Bệnh hoạn khiến cô Sơ không đi được thăng bằng nên luôn luôn phải chống gậy. Những bước đi của cô Sơ thường để lại vết tích rõ ràng in hằn sâu xuống mặt đất. Hai vết guốc ăn sâu xuống mặt đất như hai vệt ngón tay đều trằn trặn. Chiếc gậy tre giúp cô chống đỡ cũng được dịp như đào xâu xuống mặt đất. Nó để lại một dấu tròn trịa như khoan trên mặt đất. Nhất là sau mùa mưa đường xá ẩm ướt. Đây cũng là dấu tích khiến mọi người xóm làng cố tình tránh né. Mọi người trong làng thường có thói quen mỗi khi đi trên đường đều không quên ném những cái nhìn trên mặt đất để tìm kiếm xem có dấu vết gì của đôi guốc gộc tre mà cô Sơ để lại không! Nếu có là mọi người sẽ phải tránh xa. Mọi người sợ hãi bệnh tật. Họ sợ và chỉ truyền nhau qua lời đồn đại của xóm làng là chân cô Sơ không có ngón. Bàn chân cụt ngón nhưng xần xùi trông phát sợ, phát khiếp không ai muốn nhìn. Đôi tay thì được bao kín mít không biết hình thù bàn tay ra sao!

Người xóm làng bảo nhau né tránh những vết guốc sợ rằng nếu họ vô tình dẫm phải hay đi trên vết guốc này có thể sẽ bị lây bệnh như cô Sơ vậy. Lỡ chẳng may xéo vào vết guốc là người ta vội vã xuống ao kế cận kỳ cọ làm sao không còn một chút đất nào dính vào chân. Tuy là quê mùa nhưng họ cũng ý thức phần nào về sạch sẽ và bệnh tật. Điểm đặc biệt là cô Sơ không xuất hiện thường xuyên để ra đồng làm việc. Cô tránh né đối đầu với mọi người. Mỗi lần ra khỏi nhà cô vội vã dường như cố tránh người làng. Cái dáng điệu một người cao lênh khênh vội vã chống gậy và loạng choạng bước đi mỗi khi cô xuất hiện đã làm mọi người trong xóm làng như chùn chân không muốn bước. Cái hình bóng thât khiếp đảm.Một thân hình lao đao, nghiêng ngả trước gió. Những chiếc khăn dùng để che đậy lại có dịp bay phấp phới trước cơn gió lộng ngoài đồng càng tăng cái huyền thoại ma quái và xa lánh mọi người. Họ sợ không giám nhìn những hình ảnh đó. Họ sợ gần cô Sơ. Cô ta cũng tính toán chỉ ra đồng trồng trọt hay vun xới lúc đầu mùa hay làm cỏ khi ngô khoai bắt đầu mọc và khi chúng đã đến mùa gặt hái mà thôi. Năm tháng trôi qua cô đóng kín cửa như bưng. Không ai hề thấy cô lai vãng hoặc lân la đó đây ngay cả trong khoảng sân hẹp. Vùng sân đất quanh nhà không người qua lại nên đã mọc rêu xanh rờn. Ngôi nhà nằm trên môt khung cảnh tuy không hoang vắng này nhưng chẳng khác gì một ngôi nhà bỏ hoang, vô chủ. Nhưng bên trong thực sự nó có chủ. Người chủ là cô Sơ. Một người hủi. Cô Sơ đang sống trong căn nhà đó.  

 

*

*  *

Người con gái có nước da bánh mật hơi ngăm ngăm đen. Đôi mắt đen nhánh và hai má hơi núm đồng tiền. Dáng người cao dong dỏng. Làn tóc bồng bềnh phấp phới bay trước gió để lộ những sợi tóc đen nhay nháy. Mái tóc được cắt ngắn sát ngang tai xếp thành môt hàng cong đều dặn cụp vào phía trong đầu. Đôi môi cong tớn để lộ hai chiếc răng cửa to và một hàm răng trắng đều đặn. Vai đeo chiếc ba lô nặng chĩu. Chiếc ba lô kéo lớp áo làm căng phồng đôi ngực. Chiếc áo nâu cộc cổ bẻ chùm lên chiếc quần đen nịt sát vào bụng. Chân đi một đôi dép cao su đen được cột chặt trên bàn chân bằng những sợi dây dù mầu xám. Tất cả để lộ một đôi chân dài. Những bước chân đi thoăn thoắt. Tay trái đu đưa vung vẩy, tay phải níu vào dây ba lô đeo trên vai. Cô ta đang tiến vào làng. Người con gái đó không ai xa lạ chính là đứa con gái, có tên là Gái con anh Ình. Gái đã được ngoài hai mươi tuổi đời. Sau hơn mười năm biệt tăm biệt tích không ai thấy bóng đáng người con gái này.

Hôm nay Gái bước vào làng như một người lạ. Không ai nhận ra cô ta là Gái. Gái tiến vào xóm Giữa. Con đường quen thuộc vào xóm Giữa không phẳng phui như ngày nào. Gái đã phải leo qua những vòm đất cao vì bom của máy báy Pháp đã cầy sâu xuống mặt đất, xuống những ngôi nhà nằm sát đường cái. Những vòm đất cao che khuất không cho con người nhìn thấy cái tan tác của những ngôi nhà tranh hay gạch. Chúng đã bị thiêu rụi vì bom đạn từ máy bay phóng ra. Chiếc ao của ông Sởn bị lấp đất quá nửa  và đã chờm kín cả những gốc sung. Hình ảnh những vệt bèo tấm cùng bùn ao bắn vung vãi khắp nơi vì sức ép bom đạn, bám trên gốc cây sung nay đã to đến hai người ôm mới xuể và những bụi tre cao ngất nghểu, chúng khô cứng nằm yên lặng và không rơi rụng mặc dù mưa gió hay bão bùng quanh năm suốt tháng. 

Gái mỉm cười sung sướng nhìn ngôi nhà nơi cô ta đã sinh ra đời vẫn còn nguyên vẹn. Bom đạn đã đụng nhiều nơi, hầu như khắp làng nhưng không biết nguyên nhân nào đã chừa hay bỏ sót không đụng đến ngôi nhà và chiếc ao này. Tất cả vẫn nguyên vẹn. Cô tiến đến bờ ao để nhìn xuống dòng nước. Đứng trên bờ nhìn xuống cô thấy nước ao vẫn xanh biếc. Đứng đây tại chỗ này Gái đã mường tượng và nhớ khi còn nhỏ đã lần mò từng bước một, tay phải bám vào những bậc đất để bước xuống cầu ao vớt từng giọt nước để rửa tay, rửa mặt hoặc tắm gội hay đùa nghịch soi mình dưới bóng nước của ao sâu thăm thẳm. Gái cũng nhớ có lần đã bị trận đòn thâm tím mình mẩy và lời mắng mỏ không tiếc lời của anh Ình vì đã mò mẫm xuống chiếc cầu ao này. Tiếng mắng như văng vẳng đâu đây:

“Mày còn xuống đó, có ngày lộn nhào xuống nước không ai vớt là chết đuối đấy con ạ! Con ạ..!Nghe không …nghe không….!”. Rồi những cái tát cứ tới tấp trên thân thể nó. Bất chợt Gái nhè nhẹ dơ tay mình để tìm những lằn vết trên cơ thể xa xưa! Gái co đôi vai và chẳng tìm thấy dấu vết gì trên cơ thể cả. Ngoài lớp da thịt trơn tru và mềm mại.

Cũng từ chỗ đứng cao vượt này của khu vườn Gái ném ánh mắt qua bờ ngòi để nhìn nhà bác Lý. Đôi mắt dừng lại nơi bờ ngòi, bờ ngòi xơ xác hơn xưa. Cây ổi vẫn nguyên vẹn nhưng nay xà thâp xuống mặt nước. Những chiếc lá lưa thưa. Không thây một quả ổi nào trên cành dù bây giờ đây đúng là mùa ổi chín. Vài hàng chuối lá, chuối tiêu vẫn còn nguyên vẹn nhưng không được chăm sóc nên những bẹ chuối thối cứ đè lên nhau chất thành đống.  Đôi mắt Gái tiếp tục di động để hướng về ngôi nhà lợp lá gồi của bác Lý với hai chiếc trụ cao mà chim cò vẫn đến đậu nay đã biến mất. Không một vết tích trong khung trời xanh. Chiếc cổng gạch cao vời vợi đứng trơ trọi một mình. Hàng rậu những cây duối cũng không còn nữa. Cánh cổng đóng kín mít và những dây leo đang bò ngang dọc khắp nơi. Hình bóng chứng tỏ chiếc cổng này đã bị đóng từ lâu và không người qua lại. Gái bình thản không thắc mắc để biết thêm bên trong chiếc cổng cao và đồ sộ kia đã có những gì xẩy ra. Người bên trong hiện tại đang còn sống ở đó nữa hay không hay là đã đi xa rồi. Những trận bom đạn tới tấp có hề hấn và gây thương thích cho ai không! Gái hơi bữu môi coi tất cả chỉ là việc tất nhiên. Gái không buồn vì những hình ảnh hàng ngày mình thấy nay không còn nữa.

Gái quay vào nhà. Cô đẩy cánh liếp che cửa. Khung cảnh cô quạnh khiến Gái dấy lên một nỗi buồn mênh mang của những ngày thơ ấu. Khung cảnh dường như không thay đổi gì. Mùi mốc và ẩm thấp trong phòng như bừng dậy lên khi cánh liếp che cửa được gạt sang một bên để nhường chỗ cho cơn gió ào ạt từ ngoài đổ vào. Gái dơ đôi tay để gỡ chiếc ba lô từ trên vai xuống. Gái đặt nó xuống mặt đất. Cô ghé đít ngồi vào chiếc trõng. Nơi đây cũng chính là chỗ Gái ra đời. Nó cũng còn là nơi mà Gái đã lớn lên. Nhưng bây giờ khác. Chiếc trõng đang hứng một sức nặng của cô con gái nên nó vội vã buông ra những tiếng kêu kĩu kịt, cút kít buồn buồn trong cái không khí vắng lặng. Gái cảm thấy dễ chịu và muốn bật cười vì những tiếng kêu đó. Gái ngả người để reo mình trên chiếc trõng. Tiếng kĩu kịt của trõng không những lân này kéo dài hơn và biến thành một âm thanh trầm bổng. Nó đang ngân nga như điệu nhạc đong đưa để ru Gái vào trong giấc ngủ. Âm thanh tan dần và im hẳn khi Gái thiu thiu để rồi thiêm thiếp không cưỡng nổi đôi mí mắt như đổ xập xuống lúc nào không hay. Trong cái chập chờn nửa tỉnh nửa mê Gái đã nhìn thấy một đôi vợ chồng tươi cười tung tăng dắt nhau như bay lượn trong vùng không gian nhỏ hẹp.Gái đã cố gắng nhưng vẫn không nhận được mặt người đàn bà là ai nhưng kìa người đàn ông không ai xa lạ cả chính là anh Ình! Người bố của Gái. Gái ú ớ trong tiếng gọi: Ơ kìa! Ơ kìa! Bố bố…bố ơi!. Người đàn ông như chiếc bóng ẩn hiện, mong manh tựa sợi chỉ mảnh mai uốn lượn mang đủ mầu sắc như một giải khói dài biền biệt đang đùa nghịch và lẩn vào trong những tầng mây xanh ngắt trong vùng trời bao la.

Họ dìu nhau quấn quyện đam mê trong khung trời trong vắt.  Tay trong tay như những sợi chỉ rối. Thế rồi người đàn bà cất tiếng cười và không màng đến tiếng gọi của Gái. Cũng chỗ này và trong khoảng không gian này, họ quấn quyện với nhau không biết từ hồi nào và sẽ đến bao giờ! Thoảng đôi khi họ cười thành tiếng.  Tiếng cười của hai người lanh lảnh đến rợn người! Gái tức giận! Gái hét lên và choàng tỉnh dậy. Gái đã v ừa qua một giấc mơ! Một giấc mơ thật ngắn. Nhưng Gái cố nhớ lại hình ảnh của người đàn bà! Khuôn mặt Gái chưa hề nhìn thấy bao giờ! Phải đây là mẹ của Gái không! Mẹ của Gái mất rồi mà! Ờ mà tại sao bố lại nắm tay người đàn bà này nhỉ. Bố đâu có quyền như vậy nhỉ! Lúc này Gái mới nhớ đến người bố. Người bố mà Gái đã bặt tin cả năm nay. Bố đã giận Gái chăng vì Gái không thăm hỏi thư từ gì cho bố cả. Từ lúc bước vào đây Gái vẫn đinh ninh là sẽ gặp mặt người bố. Người bố nghiêm khắc và khắc khổ vì cuộc sống chật vật hàng ngày. Nhưng không thấy bố đâu cả. Hay bố ra đồng làm ruộng. Nhưng sao trong nhà nguội lạnh. Không có dấu tích của nếp sống thường nhật.Màng nhện răng đầy khắp nơi! Một vài con thạch thùng đang chậm rãi bò trên những khung tre dùng làm đòn chống đỡ. Chúng chồm nhẩy như tranh dành khi thấy những con nhện đang đu đưa trong không gian. Chúng bất lực không có cách gì hòng mong đớp được những con nhện béo xù xì khều khào trên màng tơ.

Gái uể oải đứng dậy. Gái cảm thấy hơi đói. Gái tìm lại chiếc ba lô và kéo chiếc zíp khóa để lấy một gói cơm nắm. Nắm cơm nắm gọn ghẽ trong chiếc lá mướp đã nhàu nát. Những lớp mồ hôi như muốn rịn ra từ kẽ lá vì sức ép của sức nóng buổi sáng nay khi Gái loay hoay nằm trước khi lên đường. Gái đưa lên miệng để ngoạm một miếng cơm nắm. Miếng cơm nắm nằm yên trong mồm. Gái để nguyên chưa kịp nhai. Khung cảnh và hơi hướm trong phòng khiến Gái hơi lợm giọng. Gái chỉ đủ sức cắn một miếng đó để rồi cất vội nắm cơm vào trong túi ba lô.

Gái đứng dậy và lững thững rảo bước ra khỏi phòng. Gái bước từ thềm nhà xuống sân để ra ngõ. Gái ném ánh mắt về phía cổng ra vào. Bất chợt đôi mắt Gái bắt gặp một đám người lố nhố đứng ở ngoài ngõ. Nhóm người khá đông. Họ đứng chờ từ hồi nào không rõ. Gái tiến gần đến họ. Một người trong bọn thắt một chiếc thắt lưng da to bản. Trên thắt lưng có đeo một bao da trong có khẩu súng lục. Người này trịnh trọng chỉ bước một bước lên thôi rồi đứng nguyên chụm hai chân lại dơ bàn tay úp sấp đưa lên đuôi mắt để tỏ dấu hiệu chào kính và đồng thời gã mím miệng sẽ nói nhưng cũng để Gái đủ nghe thấy:

“Xin kính chào đồng chí bí thư huyện ủy”

Dường như đã quen với cung cách lễ nghi tiếp đón này nên Gái không đáp lại nhưng chỉ mỉm cười, dơ tay chào đáp lại, thái độ nghiêm trang ẩn hiện trong cái nghiêm khắc của một người cấp cao. Gái hơi nhún vai đặt câu hỏi:

 “Sao các đồng chí biết tôi về đây”

Gã đeo súng chính là viên xã trưởng và cũng là người chỉ huy trong bọn:

“Từ mấy hôm nay chúng tôi đã được điện tín từ thượng cấp gửi về. Chúng tôi có nhiệm vụ phải canh gác và bảo vệ đồng chí bí thư. Chúng tôi biết nội nhật ngày hôm nay là đồng chí bí thư sẽ có mặt. Nhưng anh em đã chờ đón đồng chí bí thư ở đầu quán xóm Cui. Không ngờ đồng chí bí thư lại không đi qua đây. Đồng chí bí thư đã đi đường đồng trước cửa đình. Khi hỏi anh em điếm canh mới biết là đồng chí bí thư đã vào làng rồi nên chúng tôi tin là đồng chí bí thư đang đến thăm tệ xá cũ! Anh em chúng tôi đến đây và túc trực ở cổng này từ lâu. Biết đông chí bí thư đang ở trong. Không giám làm động tĩnh, phiền hà sự yên lặng của đồng chí bí thư! Chúng tôi đứng đợi và chờ lệnh của đồng chí ở đây.”

Gái nhớ lại kể từ lúc Gái tiến vào làng và rồi để vào căn nhà này, Gái không hề nói chuyện với một người làng nào. Trên đường vào làng Gái chỉ nhìn thấy một bà lão bỏm bẻm nhai trầu đứng trước cửa đình làng. Gái không nhận ra người đàn bà ấy. Bà lão chính là chị Theo nay đã già nua và răng đã rụng hết nên phải dùng lợi nhai trầu  thỉnh thoảng đưa ngón tay lên ngang miệng để quệt những lớp nước bọt lẫn nước trầu hoen trên môi. Bà lão chỉ nhác nhìn thấy Gái như một người xa lạ mới đến đây hay coi như một khách qua làng. Gái cũng đi qua vòm canh đặt ngay ở đầu làng. Trong quán có một vài người trai tráng đang cắm cúi đánh cờ. Họ chẳng hề để ý đến việc Gái đi qua trạm canh để vào làng. Nhưng thực sự những người canh gác đã tảng lờ làm như cố tình có lẽ vì họ không biết cung cách phải đón tiếp Gái như thế nào mà thôi. Gái đã cảm thấy cái cẩu thả trong việc canh gác gìn giữ an ninh làng mạc. Gái định bụng sẽ có lời khiển trách!

Gái đang để hồn chơi vơi trong khung cảnh nhìn thấy trong giây phút khi đặt chân bước vào làng. Thái độ hờ hững thật vô tình. Thế rồi bỗng Gái nhìn kỹ hơn người  vừa chào hỏi mình. Gái đã nhận diện ra được gã là ai. Kìa những vệt thẹo nho nhỏ gập gềnh trên khuôn mặt. Lớp da không phẳng phui! Do bệnh đậu mùa đã qua đi nhưng vẫn còn để lại di tích trên khuôn mặt choắt như hai bàn tay chéo. Vầng trán thấp. Đôi tai nhỏ tí! Nó mỏng tang. Nó thật cân xứng với khuôn mặt và càng rõ ràng không che đậy vì mái tóc vừa được hớt ngắn để lộ những vệt da đầu trắng phốc. Thân hình khẳng khiu, lêu khêu và gầy đét. Gã là con người canh điền của ông trương tuần trong làng có tên là Trương Hồng. Gã không giám nhìn thẳng mặt Gái. Đôi mắt như cố tính tảng lờ để nhìn đi nơi khác hay xuống đất. Cung cách thuần thục của một người triệt để thi hành và ngoan ngoãn chờ lệnh. Bất chợt hắn lắp bắp:

“Xin mời đồng chí bí thư về nghỉ tại nhà khách! Để anh em chúng tôi có dịp phục dịch!”

“Ở đây có nhà khách?” Gái cất tiếng hỏi.

Gã trịnh trọng thưa:

“Bẩm vâng!”

Gái hỏi thêm:

“Đâu thế nhỉ?”

Gã nói vội:

“Nhà tên Đa! nay là nhà nhân dân! Thưa đồng chí! Ngôi nhà ba tầng. Hai lần cổng. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn và được canh phòng cẩn mật. Đồng chí sẽ hài lòng khi đến đây. Tất cả anh em chúng tôi vẫn chờ đợi và đến một ngày nào đó đồng chí về thăm quê hương! Hôm nay là một cơ hội!”

Gã vẫn giữ vẻ ngoan ngoãn lẫn trong cái khúm núm của một cấp dưới. Hắn không bỏ lỡ dịp để ba hoa khoe khoang những công trình của những ngày nổi dậy của dân làng. Khí thế cách mạng đem đến một luồng gió. Nương vào luồng gió như cơn lốc, cơn lốc tựa như trạn phong ba tàn phá không phân định nơi chốn. Nó như cơn ác mộng đem đến một sự thay đổi ngôi thứ. Cơn lốc hắt đuổi tất cả những gì hiện có. Những người chủ đã bị xô đẩy ra khỏi nơi trốn để rồi bị đầy ải  phải sống chui rúc nơi chuồng chó, chuồng trâu, chuồng bò hay chuồng lợn. Nương theo chiều gió những người trong làng đã ùa nhau để làm một cuộc chiếm cứ không thương tiếc và cũng không nương tay, kẻ nào mạnh thì được. Thế rồi chỉ trong một sớm một chiều họ đã  nghiễm nhiên trở thành những người ăn trên ngồi trốc, những ngôi nhà cao cửa rộng hay ruộng đồng mênh mông là của nhân dân. Tất cả thuộc về nhân dân! Nghĩa là của họ. Cơn bão qua đi và để lại những vết thương không gì hàn gắn!

Như một lời ngợi khen, Gái buông câu nói:

“Các đồng chí hành động tốt!” Gái cười, nụ cười mang vẻ lạnh lùng và tiếp tục nói tiếp: “Nhưng tôi muốn đợi để gặp thày tôi! Đã lâu lắm tôi không gặp mặt người! Không biết ông ra sao và không biết chừng nào ông sẽ về nhỉ! Các đồng chí có biết không? Hẳn các đồng chí ở đây phải biết rõ chứ! Phải không?”

 Không biết khi buông ra những câu nói thật mập mờ đó có phải Gái cố ý để thăm dò, tìmkiếm  xem tình cảm con người đang phía nào và nó cũng đang ở mức độ nào. Nhất là những người đang đối diện với Gái! Nó cao hay thấp! Cái tình cảm như đã được hằn sâu từ nhiều thế hệ nay. Nó vẫn được kính trọng hay khinh thị! Nó còn tồn tại hay phai nhòa trong thâm tâm những con người chất phác. Gái đưa ánh mắt như soi dọi tìm kiếm từng người. Họ vẫn ngoan ngoãn đứng yên. Không một ai bầy tỏ hay lên tiếng. Họ kính trọng dù họ chẳng hiểu thâm ý của người đối diện với họ đang dò tìm nơi họ! Họ là những người đang được ban phát những đặc ân chẳng thua những bầy thú đang được chăm lo nuôi nấng thật sung mãn. Những tâm hồn cục mịch hẳn chẳng bao giờ đoán nghĩ đến những cái lắt léo cuộc đời. Họ ăn chưa no cũng không giám nói, họ buồn cũng không giám thổ lộ. Như bản năng tiềm ẩn  chẳng nề hà ném tầm mắt để đuổi bắt những bóng hình ảo ảnh. Hình ảnh những con thú săn mồi. Mục tiêu kề cận nhất là mê mải nhìn những miếng mồi thơm tho, đang phơi bầy trước mặt.

 Biện, gã có tên là Biện, đến lúc này hắn mới giám ngửng mặt để nhìn thẳng vào người đối diện. Gã nhìn thấy đôi mắt như ánh đèn pha đang đăm đăm hướng về phía gã. Gã cảm thấy ngại ngùng, cái ngại ngùng lẫn trong lo sợ. Hắn đang trực diện trước một thế lực, quyền uy. Gã biết quyền lực của gã lúc này đang trong tay Gái. Cái tin mà gã sẽ nói về việc anh Ình qua đời sẽ có ảnh hưởng gì đây! Hẳn sẽ làm Gái buồn phiền. Gã sợ trách móc! Gã sợ khiển trách. Gã không muốn vậy! Hắn muốn chối bỏ hiện tại. Nhưng không thể được. Gã cảm thấy những sợi tóc gáy của gã không còn ngoan ngoãn nằm yên. Gã dơ tay định vuốt làn tóc mai nhưng gã cảm thấy cánh tay nặng nề không cử động. Một tin buồn người cha mới mất làm sao khiến cho người con không khỏi buồn phiền nhỉ! Gã vẫn đinh ninh tình ruột thịt máu mủ mà. Nhưng gã đã nhầm! Gã đằng hắng mấy lần để lấy giọng và cuối cùng dù ấp úng nhưng quả quyết trong miễn cưỡng:

“Thưa đồng chí bí thư! Thế đồng chí bí thư chưa biết chuyện gì ư!?”

Gái lặng thinh không một chút xao xuyến:

“Biết gì! Đồng chí nói sao?” Gái hơi nhếch miệng, cau đôi mày cười nhạt!

Gã tiếp lời:

“Cụ nhà mất rồi!”

Gã chỉ nói được vậy. Gã đứng ngay như một kẻ bất động trong chờ đợi. Hắn mong chờ gì? Một tiếng khóc! Một tiếng thở dài thương tiếc! Những tiếng nức nở thương đau! Một thái độ chạy trốn hiện tại. Những giọt nước mắt sẽ lăn từ đôi mắt đầy quyền lực kia để bầy tỏ khi đón nhận một tin buồn. Điều tất yếu! Hẳn phải có! Không gì tránh khỏi cả!

Trái lại tất cả những gì hắn đang lo sợ! Gã đang mường tượng trong đầu. Gã trâng trố nhìn thấy cái vẻ mặt lạnh như tiền của Gái. Gái không bầy tỏ một thương tiếc hay nhớ nhung gì người cha đã qua đời. Gái nhìn Biện rồi đảo mắt nhìn đám đông đang câm lặng trong chờ đợi. Gái cất tiếng đanh thép như nhắn nhủ mọi người:

“Vậy ư! ông đã qua đời rồi à!” Gái lại dõng dạc nói tiếp: “Ông còn hay mất cũng chẳng có gì quan trọng cả! Đây cũng không là một mất mát cho đất nước!”

Biện như vừa thoát được gánh nặng! Gã đinh ninh và cảm thấy yếu mềm trong suy nghĩ trong phút giây vừa qua. Bài học gã nhìn thấy trước mặt. Nó hùng dũng và oai nghi! Gã phải ghi tâm tạc dạ. Quyền hạn vẫn còn trong tay gã. Gã phải bảo vệ. Gã đã và đang được dậy bảo như vậy nếu hắn muốn nắm giữ cái quyền hành này. Hắn phải gạt bỏ tất cả những suy nghĩ mà gã cho là thật vụng dại trong lo sợ. Cái suy đoán của gã thật là đáng trách. Hắn ngước đôi mắt nhìn lên! Gã muốn bầy tỏ một sự cám ơn. Gã phải làm cách mạng con người! Cách mạng tư tưởng, cung cách đối xử ngay cả với mình. Không mềm yếu. Cứng rắn với bất cứ ai! Ủy mị là hèn kém. Gã sẽ tùng phục để thi hành tư tưởng cái khí thế cách mạng đang bừng bừng nổi dậy. Hắn thở phào khoan khoái! Hắn vừa thoát được ra ngoài cái vỏ để tìm thấy con người thực của gã. Hắn ngước nhìn chung quanh. Hắn tự tin hơn bao giờ hết. Hắn đứng xéo sang một bên để tất cả những người phía sau gã có dịp trực diện với Gái. Gã muốn họ nhìn thấy cái quyền uy tối thượng ngay trước mặt. Thâm tâm của gã cũng đang muốn phơi bầy ra trước mặt mọi người ân huệ không xa vời nhưng ngay tầm tay họ. Thi hành và lãnh hội trên đường đi tới. Đó là lẽ sống mà họ phải theo. Họ sẽ được đền bù xứng đáng với chức năng của mình!

Gái khoan thai vòng đôi tay trước ngực. Gái liếc mắt  nhìn Biện rồi từ tốn hướng về phía những con người đang đứng trước mặt. Họ là những người dân làng trẻ già lẫn lộn, ngoan ngoãn đứng yên không nhúc nhích. Đôi tay buông thõng theo người. Một vài con ruồi nhặng vo ve đang tìm mồi. Chúng không ngại ngùng đáp ngay trên mặt trên môi để kiếm ăn ngay nơi những người đang đứng nghiêm trang không nhúc nhích. Cái thái độ nghiêm chỉnh đã khiến họ không giám vung hay dơ tay xua đuổi những con vật ký sinh đang bay lượn để tìm mồi. Họ muốn tỏ sự tôn kính trong yên lặng không gì làm họ lay chuyển! Tuyệt vời! Tất cả không qua mặt được Gái. Gái gật gù vẻ hài lòng. Gái dõng dạc cất tiếng nói:

“Tôi sẽ lưu ngụ tại đây. Tôi cũng sẽ cùng sinh hoạt với các đồng chí trong đôi ba ngày sắp tới. Sau đó tôi phải lên đường đi ngay! Tôi không ở lại đây lâu”  

Biện dơ tay nhè nhẹ gãi đầu vẻ luyến tiếc đề nghị của gã đã không được Gái chấp thuận. Gã không muốn mất cơ hội. Gã muốn tỏ ra là một xã trưởng biết chăm lo công việc. Biết trách nhiệm của mình đối với cấp trên. Gã thu vội cánh tay đang dơ cao để rồi xếp đôi bàn tay lại để chúng đan bện vào nhau trong khi lí nhí cất tiếng nói thật trịnh trọng nhưng ẩn hiện cái tâng công:

 “Kính thưa đồng chí bí thư! Khi sinh thời cụ thân sinh ra đồng chí đã từ chối không cho phép anh em chúng tôi tu bổ nơi đây. Cụ ông cũng từ chối không chịu dời bỏ nơi đang cư ngụ khi được mời đến ở những nơi cao sang hơn, đẹp hay rộng rãi hơn. Cụ sống như một người ẩn dật không màng phù phiếm giành giật. Dù làn sóng cách mạng đang ào ạt tới, cụ vẫn thản nhiên chống gậy đứng trước ngõ hay ra quán Diệm để nhìn giời nhìn đất. Cụ dửng dưng trước khí thế đổi thay. Đôi khi cụ  ngửa mặt nhìn trời rồi cười. Tiếng cười như vang dậy. Cụ sống ngăn cách hẳn người xóm làng. Anh em chúng tôi đã tìm mọi cách để gần người nhưng vô hiệu. Chúng tôi đã cố gắng tìm nguyên do nhưng đành bất lực! Khi lâm bệnh và sắp qua đời cụ đã nhắn nhủ là mong được mai táng tại bãi tha ma dành cho những ngôi mộ hoang. Về tệ xá này, vì tôn trọng ý muốn của người quá cố các anh em chúng tôi vẫn giữ nguyên vẹn nơi đây không sửa đổi gì. Có lẽ đây cũng sẽ là một di tích của nhân dân. Mai này thế hệ hậu sinh phải nhìn ngắm nơi này để làm gương. Mọi người phải kính mến và bảo tồn nơi đây như một bảo vật của cách mạng! Nhưng có điều khi bàn về nơi chốn an giấc ngàn thu của cụ chúng tôi không thể để cụ cùng nằm chung với những ngôi mộ hoang, vô thừa nhận. Đây là một sỉ nhục đối với nhân dân. Chúng tôi đã quyết định mai táng cụ tại thửa ruông đẹp nhất làng của tên lý trưởng cường hào ác bá đã chiếm cứ của nhân dân từ mấy đời nay! Đó có thể cũng là điều đã làm trái với ý nguyện người quá cố!”

Gái lặng thinh khi nghe Biện nói. Bất chợt Gái đặt câu hỏi:

“Các đồng chí đã làm trái với nguyện vọng của thày tôi đấy nhỉ!”

Nghe Gái nói. Niềm vui mừng như bộc phát bất chợt. Biện vội vã đáp lời:

“Bẩm vâng!” Biện cũng không quên để cố chêm vào: “Tất cả mồ êm mả đẹp! Cụ dù có qua đời nhưng hẳn cụ cũng ngậm cười nơi chín suối” Gã đang chờ mong một lời khen! Ý nghĩ của một ngươii ngờ nghệch! Nhưng lời khen chẳng bao giờ đến!

Gái không nói thêm, vẻ trầm lặng. Cái trầm lặng như bao trùm lấn át niềm mong chờ của những tâm hồn chất phác. Thế rồi Gái buông câu nói:

“Các đồng chí có thể về. Chúng ta sẽ gặp nhau!”

Nói xong Gái quay gót bước đi. Đám người như chơi vơi trong ngỡ ngàng.

Biện ra lệnh tan hàng người nào về nhà nấy nhưng không quên dặn dò và cắt đặt luân phiên nhau phải có hai người canh gác nơi cổng ra vào căn nhà nơi Gái đang ở. Mặt trời lúc này đã xuống thấp đang cố gắng vung vãi những ánh nắng vàng vọt của một ngày tàn.

 

*

*  *

Bãi cổng ngòi như một mỏm đất nhô lên

giữa cái phăng phưu của đồng ruộng. Vùng

đất đã tạo thành một gò cao đứng sừng sững. Từ trên gò cao ta có thể nhìn thấy đồng chanh, mã kỳ, sâu gia, đồng kênh, dưới đồng đây là những vùng phân định địa phận của mỗi cánh đồng và xa xa phía dưới là một dòng nước lững lờ chẩy được mệnh danh là cánh đồng chẩy. Cánh đổng chẩy chỉ cách gò có một thửa ruộng. Cả hai thửa ruộng có từ đời cụ Mục đã để lại cho con cháu. Trong làn nước đục chẳng thiếu cá mú. Cá rô, cá quả trườn mình làm nước đã đục lại đục hơn. Hai thửa ruộng dưới chân gò là vùng đất phì nhiêu cho loại khoai dầu hay còn gọi là khoai sọ. Mùa hè đến những củ khoai  xọ to như vốc tay đang phơi mình trên những luống đất mấp mô khi những chiếc lá đã bắt đầu khô héo và tàn lụi lúc mùa hạ qua đi.

Trời vào đông những chiếc lá vàng hưu hắt còn sót đang sửa soạn để lìa cành. Con đường dẫn vào gò cổng ngòi nằm ven bờ ruộng. Đường rốc thẳng đứng. Đi từ đường cái vào ngôi gò cao cũng khá vất vả. Ven bờ gò cỏ lá mía dại cao ngất. Đứng trong gò cho ta cảm tưởng đây là một gò trũng như chiếc chảo. Trâu bò mươi mười lăm con đang cắm cúi chăm chỉ gậm cỏ. Dăm bẩy ngôi mộ vô thừa nhận hầu như bị san bằng không còn hình dáng vì vết chân trâu bò quần thảo và đạp lên hàng ngày. Khung cảnh buồn ảm đạm của một bãi hoang. Nhưng cỏ trên bãi xanh rờn.

Có lẽ mùa màng gặt hái đã xong nên trên gò hôm nay xuất hiện một người. Hình dáng một người đàn ông có vóc dáng cao lớn đang đứng trên gò đống này. Những chiếc lá mía dại đã cao nhưng cũng vẫn không đủ sức che lấp hình dáng lêu nghêu đang giảo bước quanh gò. Đôi tay dài chấm đầu gối. Mái tóc đang xõa trên vai, chúng được dắt vào kẽ tai gọn ghẽ. Mái tóc được phân chia thành hai. Lằn mức phân chia đã để lộ một vệt trắng phau trên đỉnh đầu. Vệt trắng đã rẽ mái tóc thành ngôi. Dường như không chải chuốt nhưng vệt ngôi trên đầu cũng thẳng tắp. Tất cả để lộ một vừng trán cao và khuôn mặt chữ điền vuông vắn. Đôi má như bạnh ra và nâng kéo chiếc cằm cao hơn. Người đó không ai xa lạ chính là bác Lý. Cháu đích tôn của cụ Mục.

 Sau nhiều năm làm việc nay bác đã trao ấn nhường quyền lại cho người khác. Suốt trong thời gian tại chức bác đã bỏ bê công việc đồng áng. Tháng ngày ngụp lặn trong việc công, ruộng đồng phó mặc cho canh điền trong làng hay thuê mướn người làng bên. Nhưng đồng áng vẫn tốt. Ngô khoai vẫn đầy nhà. Khung cảnh vẫn tấp nập và tiền dư bạc để không phải vì quyền hành đem lại hay chiếm công vi tư mà có. Hôm nay như thường lệ Bác có thói quen mỗi khi ra đồng thường hay tìm đến những gò đống cao để ném tầm mắt nhìn ra xa. Cũng từ trên cao bác có thể nhìn thấy tất cả khung cảnh và sinh hoạt phía dưới. Tất cả đang hiện diện nằm dưới bàn chân bác. Vào mùa ngô dù ngô khoai cao mấy cũng không gì che lấp mắt con người được. Vào mùa lúa thì không gì thích thú bằng nhìn những cánh đồng mênh mang xanh biếc một mầu. Mùa gặt tàn phai khi nhìn những bầy trâu đang húc đầu khoa chân rầm rầm bước đi trên cánh đồng nước bạc thì không còn gì đẹp và hùng vĩ bằng.

Cái ý niệm nhìn xa trông rộng không biết đã bắt đầu từ bao giờ. Trong thời gian tại chức hay từ  hồi niên thiếu của bác Lý. Khăn vấn, quần trùng áo dài mỗi khi lên huyện trình quan để nhìn thấy cái uy quyền, đẳng cấp chẳng khác gì những nấc thang đang ngự trị trong cuộc đời.

Phải chăng đấy là những ma lực lôi cuốn và chinh phục con người. Phải chăng sự diện kiến đã khiến bác nẩy ra ý định. Khi con cái vừa đôi tám là bác đã tìm cách để tất cả phải trực diện với ganh đua. Vùng đất sinh trưởng này vẫn chưa là tuyệt đích. Muốn tìm cái gì khác hơn cái khung cảnh này. Cái xã hội trước mặt mà muôn người đang tới tấp hòng mong được hòa mình vào để sống. Xã hội đang hiện ra là xã hội của tỉnh thành. Chính cái thời gian đương quyền bác vô tình tạo một hình ảnh mà người đương thời cho là đẹp, một ấn tượng tốt, một thế đứng, một niềm kính trọng từ trên xuống dưới và lan rộng không những chỉ dân làng biết mà còn được sự quí mến của những người đã đi trước, những người có kinh nghiệm nơi tỉnh thành. Không biết có phải cái quyền uy một khi đã được xây dựng trên cái mà người ta gọi là đạo đức và thành tâm thường khó xóa nhòa, nó bền vững và như một bóng rợp mà mọi người đua chen vào đó để nương nhờ hay không! Còn cái quyền uy hay phú quí được xây dựng trên thù hận, xây đắp trên xương máu nó vẫn có thực, vẫn có ngôi thứ như những gì mà ý thức đã công nhận cũng chăng hề chối bỏ. Cái ý niệm thiện và ác chỉ là một hình bóng. Hãy sống cho mình cho hiện tại và còn tương lai ư hãy để cho người đời phán xét, theo năng khiếu và bản năng của họ!

Đứng trên vòm cao này bác Lý cũng tưởng như mình đang đứng trong không gian bao la chỉ có gió và mây. Bác chẳng biết mình đang ở tư thế nào, vị thế nào đối với xung quanh. Nhưng xung quanh bác chẳng có ai. Bác không biết. Bác vô tình. Nhìn hạnh phúc của mình. Nhìn hạnh phúc của người khác. Con người tư vị. Cái vô tình của mình đem hạnh phúc cho người khác. Chỉ cần một lời nói, một phê phán sẽ đem đến niềm vui, một sự đầy ải hay cái cùng cực cho người khác. Cũng có thể đây chỉ là một hành động vô tình hoặc là cố ý. Người trong cuộc thấu hiểu. Ngươii thừa hưởng cũng chẳng quên. Mang ân tình nghĩa nặng. Họ sống chờ đợi chẳng biết có nuôi mộng hay ý định đền đáp. Câu chuyện đền đáp đôi khi như môt ảo mộng. Làm sao mà đền đáp. Lấy gì mà đền đáp đây! Nhưng ơn dầy nghĩa nặng mấy ai quên dù trong cảnh huống nào đi nữa. Nó như một món nợ tinh thần. Nó âm ỉ trong ấp ủ. Hãy để yên món nợ trong thâm tâm mình. Mình trả nợ để tìm sảng khoái hay chỉ là vì bổn phận. Họ biết. Họ nhớ. Họ chăng biêt. Họ chẳng nhớ. Chuyện quan trọng. Chuyện chăng quan trọng. Người trong cuộc nghĩ vậy.

Người ngoài cuộc chê bai! Hẳn đây có mang những bí ân gì! Đem bàn tay định che khuất mặt trời. Nhưng hôm nay đứng trên vòm cao này sao bác cảm thấy khoan khoái và ung dung lạ. Nhìn bầy trâu bò gậm cỏ chăm chỉ, chúng đang làm việc để tìm nguồn sống. Ngoảnh nhìn những mấm mồ vô thừa nhận như chìm đắm trong mặt đất. Nhưng trong lòng đất sâu thẳm và khô cằn ấy vẫn còn dấu tích của những cốt hài nguyên vẹn như ngày nào họ đã được đặt xuống đây. Tất cả ẩn dấu trong lòng đất mà người đứng đây như bác không nhìn thấy. Vùng đất không được chăm sóc như  bị dầy vò bởi những vêt chân thú vật đạp lên để giành lấy sự sống. Quả thật vô tình. Bạc đãi. Không nhân nghĩa. Không tình người. Bác thấy dấy lên trong lòng một nỗi buồn. Từ trên cao bác cũng nhìn thấy mồ mả rải rác trên ruộng đồng. Chúng nằm riêng rẽ thênh thang trên những thửa ruộng phí nhiều. Vậy thì có một sự phân cách nào đó. Người nằm trên bãi tha ma không hương khói. Không người thăm viếng. Nơi nằm an nghỉ sau cuộc đời lại vô tình bị chà đạp, dầy xéo bởi loài vật để nương tựa hòng mong tìm nguồn sống! Đôi khi chẳng còn dấu tính gì để lại. Trái lại những kẻ nằm trên thửa đất phì nhiêu kia nơi đây cũng là dấu tích bàn chân của chính họ đã đạp lên không biết bao nhiêu lần. Cho đến khi họ nằm xuống cũng chính tại nơi mà họ đã vun trồng. Họ đã thỏa chí khi dành được một mảnh đất nhỏ để nằm và biết đâu sẽ chẳng có người hương khói, viếng thăm trong những ngày thanh minh tìm đến để tưởng nhớ công ơn sinh thành, nuôi dưỡng. Họ là kẻ có thực quyền. Đó là quyền tư  hữu trong lãnh vực hạn hẹp thuộc lãnh phần của họ.

Hôm nay bác đứng đây để nhìn xuống những thửa ruộng của mình và của người em. Xa xa là những vùng nước đục của cánh đồng chẩy. Cánh đồng nước chẩy không ngừng và không bao giờ khô cạn. Cánh đồng chẩy đem lại nguồn sống cho ruộng đồng. Bác cũng nhìn thấy những bóng người thấp thoáng  qua lại trên đường cái. Bác cảm thấy thật thanh thản như để lại tất cả những chuỗi ngày đã qua ở đằng sau. Không một buồn phiền hay nuối tiếc.

Bác đang thả hồn trôi theo mây theo gió thì bất chợt có tiếng nói cất giọng phía đằng sau mình:

“Ô kìa chú Lý, cháu cứ nghĩ là ai! Chú đang trông bò ăn cỏ! Hay canh khoai sọ? Nhìn những luống khoai của chú ai cũng ham!”

Bác ngoảnh đầu lại nhìn thì nhận ra một chàng trai tỉnh thành có tên là cậu Ký. Cậu Ký con ông đội Bồn. Cậu Ký đang tỳ khuỷu tay trên ghi đông xe đạp. Tay trái đang ghì chặt cần sợi dây phanh xe. Một chân co chân duỗi. Chân duỗi đứng thẳng để chống đỡ chiếc xe đang nghiêng ngả. Chân co đang gác trên yên xe. Cậu đứng cách bác Lý cũng khá xa. Cậu ta đến đây từ hồi nào mà bác Lý không biết. Bác Lý chưa kịp đáp thì cậu Ký tiếp lời:

“Chú ở trong làng xa xôi thế mà dắt bò ra tận đây cho ăn cỏ ư! Sao chú không đem bò ra bãi trước trong làng cho chúng ăn cỏ!”

Bác Lý chậm rãi đáp lời:

“Không cháu ơi! Mùa màng vừa xong, tôi tha thẩn đi đó đi đây cậu ạ! Bầy bò kia đang ăn cỏ không phải bò của chú! Ờ mà cậu ở ngoài trại xa xôi mấy khi vào làng mà biết! Này nhưng mà cậu ơi! Cỏ trong mấy bãi trước và bãi sau đầu làng cụt cằn vả lại có lẽ trâu bò trong làng cũng đông nên cỏ mọc không kịp.  Nhưng mà cậu có lý không đâu có cỏ tốt bằng bãi cổng ngòi này đấy! Như cậu thấy đường xá cũng không gần gũi gì phải không cậu! Có lẽ vậy ít ai trong làng ta dắt bò đến đây phải không cậu? Cậu mới ở Hà Nội về à? Về chơi chừng nào đi?”  

Cậu Ký con ông đội Bồn vội đáp:

“Cháu về quê ăn tết. Cậu mợ cháu cũng vậy!”

Bác Lý buông vội tiếng:

“À! Tôi quên mất! Tết nhất đến nơi rồi đấy cậu nhỉ! Chừng nào cậu lại ra Hà Nội lại? Tôi xin gửi lời chào ông bà đội nhé!”

“Thưa chú ra giêng! Cháu sẽ cùng đi với cậu mợ cháu! Có lẽ mồng mười hay rằm tháng giêng gì đó. Cháu không biết!”

Bác Lý cũng hỏi tiếp:

“Thế cậu leo lên bãi này làm gì? Bãi gập ghềnh thế kia làm sao mà đi xe đạp!”

Cậu Ký cười rộ:

“Cháu lên trên này dắt trâu về. Cháu đâu có lên trên này để đi xe đạp đâu! Chú không thấy trâu nhà cháu à. Nó kia kìa!” Vừa nói cậu Ký vừa chỉ vào con trâu đang vươn cao cổ để húc đầu vào bụi rậm tìm cỏ.

Lúc này bác Lý mới nhận thấy con trâu của ông đội Bồn. Con trâu đã được làng nước khen ngợi là con trâu khỏe nhất làng. Nó kéo cầy chẳng khác gì ví như đang đi chơi. Mỗi bước đi của nó chắc nịch. Dù cầy sâu đến đâu lưng trâu cũng vẫn thẳng và không hề cong hay khum người để lấy sức. Tất cả biểu tượng con vật có sức mạnh vô địch. Đây là con trâu đắt giá mà chỉ có nhà ông đội Bồn mới có khả năng tậu mua được thôi!

Cậu Ký để xe đạp tựa vào bụi rậm trên bãi và tiến về phía trâu. Con trâu hiền từ không bỏ chạy khi cậu tiến lại gần. Nó ngước mắt nhìn cậu trong khi thè dài chiếc lưỡi để lùa những đám cỏ vừa ngoạm được trong bụi để đưa vào trong mồm. Cậu ký níu sừng trâu để gỡ những sợi thừng đang quáng quấn trên đầu con vật. Cậu dẫn dắt con trâu về  phía bác Lý đang đứng không xa chiếc xe đạp là bao. Con vật ngoan ngoãn bước đi nhưng miệng không ngừng nhai cỏ thật ngon lành. Bác Lý nói vọng về phía cậu Ký:

“Này cậu Ký! Cậu thích ăn khoai sọ không?”

Cậu Ký vồn vã đáp:

“Nhà cháu không giồng khoai! Ruộng nương của bố mẹ cháu nằm dọc theo cánh đồng chẩy. Ngập nước quanh năm. Lúa cấy hai mùa. Khoai đâu mà ăn. Muốn ăn phải ra chợ. Năm thì mười họa một đôi ba lần mợ cháu mới mua!”

Bác Lý kéo cậu Ký xuống bãi để hướng về phía ruộng. Bác tiến đến những luống khoai sọ và vơ tay nhổ vài chùm. Bác cẩn thận rũ đất bám trên những củ khoai và  buộc túm chúng lại. Bác mắc chùm khoai trên ghi đông xe đạp của cậu Ký và nở miệng cười:

“Gửi cậu mấy củ khoai mang về biếu ông bà đội! Khoai sọ hầm với thịt thủ vào những ngày tư ngày tết ăn thì tuyệt ngon đấy cậu ạ!”

Bác Lý và cậu Ký chia tay. Cậu Ký đẩy xe đạp và dong trâu vào đường cái và không quên vồn vã cám ơn bác Lý.

Trên con đường vào làng, bác Lý ngoái cổ nhìn lại vùng gò cổng ngòi. Ngôi gò định mệnh không ngờ mai này lại là nơi bác phải gửi xác ngàn thu nơi đây. Bác đã nằm đây mãi mãi bên cạnh những mấm mồ hoang để nhìn cánh đồng chẩy với dòng nước luân lưu quanh năm suốt tháng không bao giờ ngưng.

 

*

*  *

Người ngồi ghế chánh án để xử tội gia đình bác Lý là Gái. Viên xã trưởng trong làng có tên là Biện muốn chứng tỏ cái khí thế và quyền uy cuộc đại cách mạng của nhân dân nên không nề hà triệu tập một buổi xử đặc biệt. Buổi xử án đặc biệt nhằm cáo buộc tội điền chủ bóc lộc xương máu của canh điền trong làng. Buổi xử tội được diễn ra ngay tại sân đình làng. Đình ngoài của làng đã bị bom đạn do máy bay Pháp đánh phá nên không còn nguyên vẹn. Khung cảnh tan hoang. Nóc đình bay biến đâu mất. Hai bức tường thành đình đứng trơ trọi, trên tường ghim đầy những mảnh bom và đạn. Tất cả là những vệt cắt lỗ chỗ dầy đặc. Nhưng những chiếc cột đình bằng gỗ lim lớn đến cả hai ba người ôm không xuể vẫn nguyên vẹn không hề lay chuyển. Gạch ngói tản mát khắp nơi. Tất cả vết tích đã được truyền tụng là do thực dân và Việt gian chủ xướng.

Một chiếc ghế hàng đầu độc nhất dành cho Gái. Đằng sau là vài chiếc ghế học trò dài xếp lổng chổng vì sân đình đã bị bom cầy sâu nên không còn bằng phẳng. Bác Lý gái bị trói vào cột đình. Hai tay bác bị trói quặt lại đằng sau bởi một sợi thừng bò dài quấn quanh cột đình. Mái tóc đen dài óng ả bị cuốn tụm thành từng bó đóng ghim vào cột đình. Đầu bác bị ghim cứng không thể cử động. Bác không còn khả năng quay ngang hay dọc. Đôi mắt trợn trừng trừng chỉ có thể nhìn thẳng về đằng trước hay liếc ngang liếc dọc mà thôi.

Bác ngước nhìn về phía trước. Bác thấy Gái. Hôm qua bác nghe loáng thoáng một nhân vật lớn trên Huyện sẽ về làng. Bác không nhận ra Gái. Bác không biết người con gái ngồi chễm chệ trước mặt bác chính là đứa bé đã được cứu sống bằng những giọt sữa của mình! Bác nở một nụ cười khô khan! Khuôn mặt hiền từ phúc hậu của bác bao giờ cũng vậy! Năm tháng qua đi nhưng nó không thay đổi! Ôi sao mà nó đẹp và yêu thương vậy. Hận thù, hành hạ, sợ hãi nó và muốn hủy hoại nó nhưng không được! Bây giờ và hàng chục năm về sau, khuôn mặt ấy vẫn đầy một tình thương, tha thứ và bao dung.

Trước khi bị lôi kéo để dẫn ra đây, bác Lý gái đã linh cảm điều không hay đang xẩy đến cho mình. Tuy đã bị đánh đập đấm đá không nương tay vì bác cố ở lỳ không chịu đi. Cuối cùng biết sức mình có hạn, không cưỡng được những hành động không nhân tính nên Bác đã xin một đặc ân được ăn mặc tử tế trước khi rời ngôi nhà chòi nằm chơ vơ trên chiếc nền nhà cháy. Những con người đầu trâu mặt ngựa trẻ măng trong làng đã không ngớt chửi bới và chế nhạo bác. Bác lặng thinh. Và cuối cùng bị chúng điệu đi và trói vào đây.

Biện đã cho tay chân và bộ hạ đe dọa, vận động kêu gọi kịch liệt để tất cả người làng tham dự cuộc xử tội này. Lời kêu gọi đã được dùng loa đi từ xóm Trước đến xóm Cui cuối làng. Gã muốn chứng tỏ sự trung thành cùng quyền uy tối thượng của cuộc đại cách mạng với cấp trên. Những tiếng loa ầm ầm đinh tai nhức óc khiến một số những gia đình có máu mặt hay có đôi chút ruộng nương đều đóng cửa cài then không xuất đầu lộ diện. Họ chờ đợi số phận trong những ngày sắp tới. Nhưng thực sự những người này trong làng không có là bao nhiêu. Gia đình bác Lý không biết có phải là người giầu có nhất làng hay không nhưng ruộng nương thẳng cánh cò bay, đất đai tổ tiên để lại là những miếng gan miếng tiết của làng. Ngoài đất đai ao sâu vườn rộng thênh thang.Tất cả đã được truyền từ đời này qua đời khác. Một lý do khác là suốt trong thời gian tại chức làm Lý trưởng làng bác Lý trai đã bị bọn người này cáo buộc là lạm dụng quyền thế để hút máu, hút mủ dân làng. Đây là cái đích để những con mắt nghèo khó, hận thù, ghen ghét nhòm ngó. Họ chờ đợi cơ hội để trả thù. Họ đã được nhồi nhét trong đầu óc hận thù, đấu tranh giai cấp, tận diệt những hình thái cùng di tích hiện có và tập luyện để đợi ngày đòi món nợ máu phải trả của gia đình bác Lý.

Gia đình bác đã giầu có từ trong trứng. Thực sự suốt trong thời gian tại chức bác cũng không hề kỳ vọng làm giầu hay kiếm chác tiền bạc trong một sớm một chiều như những kẻ khác gán ghép và vu khống. Với quyền uy lý trưởng trong tay bác cũng chẳng hề hành hạ hay thù ghét những con người gian tà và hung ác. Bác đã đem tình người để đối xử. Đem lẽ phải và công bằng áp dụng. Khó ai có được những bằng cớ cụ thể để phơi bầy ra trước mắt dân làng. Đó là lý do bác trai cứ yên tâm như vậy. Phân minh và trong trắng là mục tiêu trong công việc sử dụng quyền hành. Nhưng cái ý niệm đó đã không còn. Cái thời cầm cân nẩy mực công bằng nay đã hết. Phân định tội và ác đã không còn lý do tồn tại. Vu khống và lăng mạ đã thành một nghệ thuật để chụp xuống đầu người lương dân. Càng nhiều người hò hét, chửi bới thì tội nhân càng nặng. Nhưng lương tri con người còn đó. Nó không thể một sớm một chiều biến mất. Địa chủ là thiểu số với dân làng và rồi bần nông thực sự cũng không chiếm được đa số, họ cũng là thiểu sổ. Đa số dân làng đã ra làm việc tại Hà Nội. Nhưng một khi tiền bạc dư thừa họ cũng về quê đề tậu ruộng làm nhà. Họ không sống thường trực nơi mảnh đất này. Nhưng những thành phần đang lợi dụng nước đục thả câu là những con người đáng sợ. Người không nghèo cũng vội kêu lên là ta nghèo để dính máu ăn phần và chạy tội không chừng. Nghèo khó là cái mốt của gia đoạn. Để đánh phá, tiến thân, cướp bóc và hôi của. 

Buổi tập họp xử tội dự định vào xế trưa và khi ánh mặt trời vừa xế bóng thì đám người đã tụ tập tại sân đình. Ngoài Gái được coi như chánh án trong vụ buộc tội này. Gái ngồi hàng ghế đầu, chiếc ghế độc nhất. Chiếc ghế thứ hai không ai giám chiếm cứ. Các cán bộ mặt trơ trán bóng trong làng được ngồi trên hàng ghế thứ ba. Hàng ghế hai dành cho thượng khách của làng trong việc xử tội này. Kỳ lão trong làng nay không còn được trọng vọng nữa.Thượng khách trong làng không ai xứng đáng để ngồi đây chỉ trừ một người đó là bà cô ruột của vị bí thư huyện ủy đang về đây công tác. Người đó là cô của Gái. Đó là cô Sơ. Kể từ ngày cách mạng thành công đến nay, cô Sơ đã được ve vãn  một cách rất bất ngờ. Cô Sơ đã được kính trọng và gần như tôn sùng. Mặc dầu cô là một người bệnh hoạn nhưng vẫn được coi là nhân vật đáng kính đáng trọng, bân nông nhất làng. Suốt đời không ló mặt ra khỏi nhà, không tham dự bất cứ sinh hoạt làng nước từ xưa cho đến ngày được mệnh danh là cách mạng thành công. Người người ai cũng biết nếu phải ra đồng áng để trồng trọt thì cô đi như người chạy trốn, né tránh tất cả mọi người. Nhưng hôm nay cô Sơ đã xuất hiện. Cô Sơ xuất hiện bất ngờ. Cô không được cán bộ làng đến mời nhưng không hiểu tại sao cô biết hôm nay là ngày đại sự trong làng. Có lẽ những tiếng loa truyền cứ liên tiếp như thôi thúc người dân làng phải góp mặt vào khí thế cách mạng. Có lẽ nghe tiếng loa nên cô đã có mặt. Ngày  của cách mạng họp bàn để xử tội địa chủ, kẻ thù của nhân dân. Khi cô có mặt tự nhiên là được tiêp rước hơn người và cô đang là cô của vị bí thư huyện ủy. Cô Sơ coi như thượng khách của buổi xử án này. Đó là lý do cô được ngồi ghế thượng khách chỉ sau Gái mà thôi! 

Cô chít khăn vuông. Mặc áo dài quần đen trùm kín từ đầu đến chân. Tất cả chỉ để hở đôi guốc bằng gộc tre có hai chiếc đế cao lênh khênh. Tay trái cô luôn dấu trong vạt áo dài. Tay phải cầm chiếc gậy nhưng sống tay được che phủ bởi một chiếc khăn tay nên không để lộ liễu ra ngoài phần nào của cơ thể. Người dân trong làng bắt buộc hiện diện khá đông. Họ không bầy tỏ thái độ qua khuôn mặt ngơ ngác, chất phác lẫn trong ngỡ ngàng. Chen lấn vào đó là một vài nét măt căm thù như muốn ăn tươi nuốt sống nạn nhân là  bác Lý gái đang bị trói chặt vào cột đình. Cô Sơ bước vào sân đình trong sự kinh ngạc của tất cả mọi người. Nhóm thuộc hạ của viên xã trưởng dang đôi tay để bảo mọi người dành cho cô một lối vào. Có những tiếng chào lác đác đâu đây:

“Kính chào cô! Kìa các đồng chí chào cô đi! Các đồng chí tránh lối để cô vào! Mời cô vào ghế thượng khách! Các đồng chí có nghe tôi nói không?” Những cán bộ mặt trơ trán bóng nồng cốt của làng đang ngồi trên hàng ghế thứ ba vội vàng đứng thẳng dậy chào đón cô Sơ. Họ cũng không quên cất tiếng chào hỏi dường như cốt để Gái nghe rõ những lời chào đón này.

Cô Sơ lách vào hàng ghế thứ hai. Cô ngồi xuống đây. Chiếc gậy dài dường như không có đủ chỗ đến nằm nó xuống nên tay cô Sơ níu đầu gậy cao vượt đầu người trông thật vướng mắt. Không một ai phản đối hay lên tiếng.    

Cuộc đấu tố bắt đầu.

Viên xã trưởng bước ra trước sân đình. Gã nhìn bác Lý, chỉ tay tận mặt.Hắn lớn tiếng:

“Con mụ này tội gì các đồng chí?”

Có tiếng xôn xao từ phía sau:

“Cường hào địa chủ, hút máu mủ nhân dân, phản cách mạng?”

Tiếng nói vừa dứt. Biện cất tiếng cười ha hả vẻ khinh miệt. Tiếng cười vừa dứt, Gã vung chân đạp mạnh vào bụng bác Lý. Một tiếng:

“Hự” vang lên. Mọi người nhìn thấy thân hình bác Lý vặn đi vì đau đớn. Mặt bác biến từ hồng hào sang tái nhợt rồi xanh rờn như tầu lá. Khung cảnh như lặng xuống. Biện không để cho buổi xử tội lắng đọng. Hắn khơi động. Gã hét to:

“Như vậy đáng tội gì?”

Một giọng nói chanh chua the thé từ phía sau:

“Giết!”

Đó là tiếng chị Chung. Chị Chung là người chuyên nghề gánh phân lợn bón ruộng cho gia đình bác Lý từ năm này qua năm khác. Chị có thân hình cao lớn, lực lưỡng và khỏe mạnh như đàn ông. Đó là lý do vì khỏe như vậy chị mới có khả năng làm công việc gánh phân, một công việc thật là nặng nhọc. Chị không con cái. Không chồng. Chị cũng là người cùng xóm. Chỉ cách nhà bác Lý dăm bẩy nhà. Sau khi chị buông ra tiếng “giết” khô khan bèn lách người ra khỏi đám dân làng để tiến về phía bác Lý. Mặt chị cau lại như muốn ăn sống nuốt tươi đối tác. Hàm răng chị nghiến lên ken két. Chị vén tay áo. Hăm hở bước vội về phía nạn nhân đang bị trói vào cột đình. Chị tới tấp đá và đạp vào người bác Lý. Chưa hả giận chị vung tay tới tấp tát vả vào mặt nạn nhân. Những bàn tay gân guốc như chiếc bàn vả không tha thứ và chừa chỗ nào trên mặt và đầu bác Lý. Trong giây lát chị ngừng hành động hướng về phía đám người tụ tập phân bua:

“Con mụ này đã bóc lột gia đình tôi, cưỡng bức lao động, cướp công lao động của tôi, không trả tiền thuê mướn! Tội “chết” chưa đủ để trả nợ nhân dân!”

Hứng đỡ trận đòn không nương tay, Bác Lý gượng gạo mở đôi mắt lờ đờ hướng về phía chị Chung:

“Thím Chung ơi! Sao lại nói vậy! Mỗi ngày làm việc đã được trả công đầy đủ mà! Thím đòi bao nhiêu tôi trả nấy! Thím còn được tôi thổi cơm để mời thím ăn nữa! Trời đất chứng giám, tôi ngần này tuổi đầu rồi đâu có nói sai!”

Chị Chung hầm hầm nét mặt lớn tiếng xỉ vả:

“Điêu ngoa! Đến lúc này mà còn điêu ngoa ư! Mày có trả tiền tao bao giờ đâu. Bóc lột đến xương đến tủy nhân dân mà còn già mồm!” Chị Chung vừa dứt lời bèn hướng về phía đám người đang theo dõi cuộc đấu tố để cao giọng hơn nữa trong việc phân bua. Chưa xong, chị còn nổi cơn tam bành vì những lời bác Lý vừa nói. Chị sấn sổ tới chỗ nạn nhân và lần này không còn tha thứ đã nín thở dùng hết sức người để đá đạp vào người nạn nhân. Với sức khỏe và thân thể to lớn tựa đàn ông chuyên nghề gánh phân lợn nay đang được dịp phô bầy không phải trong công việc nhưng hành hạ, trút mối hận thù nung nấu trên một thân hình yếu đuối mảnh mai của bác Lý. Một nạn nhân èo uột đang bị trói chặt vào cột đình không phương chống đỡ và né tránh. Khung cảnh không còn gì tàn bạo và thê thảm hơn. Hình ảnh chưa từng bao giờ xẩy ra trong ngôi làng nhỏ bé này. Người hành hạ người. Tác phong dữ dằn hơn cả con thú chộp được con mồi!

Khuôn mặt bác Lý trầy trụa không còn nguyên vẹn. Những lằn máu đua nhau rỉ rả chẩy ra. Bác thè lưỡi liếm môi khô cằn rồi liếm tiếp những giòng máu ực ra từ mồm miệng rồi từ mũi.

Sau khi đánh chửi bác Lý chị Chung chưa hả giận, chị chống tay bạng sườn và hét lớn:

“Đồng chí Biện còn đợi gì nữa sao không cho nó một nhát dao đi cho rồi! Quân gian ngoan này đáng quá mà! Không còn ai thương nữa đâu!”

Biện bật cười ha hả, nét mặt bừng bừng nham hiểm. Gã rút mã tấu bên cạnh sườn. Tiếng mã tấu đụng bao phát thành tiếng kêu đến lạnh người. Đám người tụ tập như ớn xương sống khi nhìn ánh mã tấu lấp loáng dưới ánh mặt trời. Có người trong đám đã tính bước ra xin tha tội. Nhưng rồi sau lại thôi! Gã liếc mắt về phía Gái. Thái độ như chờ đợi. Người chủ chốt cuộc sử tội. Gái đảo mắt tủm tỉm cười. Gái cất tiếng nói lanh lảnh:

“Giết nó thì được! Dễ quá! Nhưng phải làm nó đau khổ hơn nữa chứ! Hành hạ nó đi! Không nương tay mới được! Cái chết không được chết ngay nhưng chết dần dần trong đau khổ để đền tội nhân dân! Thế mới thấm thía! Các đồng chí nhớ lấy lời tôi nói đấy nhé! Đau khổ chết dần mới là một hình phạt xứng đáng nghe không các đồng chí!”

Có tiếng dạ ran và vỗ tay biểu đồng tình!

Trong cái khí đằng đằng sát máu này, Biện vội vã cất tiếng hùa theo:

“Vâng! Đồng chí bí thư rất chí lý! Chúng em sẽ hành hạ con mụ này theo ý nhân dân! Không cho nó chết ngay nhưng nó phải chết dần để đền tội ác! Như nó đã hút máu hút mủ nhân dân để bóc lột làm giầu!”

Vừa dứt câu nói gã vung mã tấu lấy đà. Ánh mã tấu như vệt chớp lấp loáng trước mặt bác Lý. Bác nhắm nghiền đôi mắt chờ đợi. Lưỡi mã tấu sắc như dao cạo đã vạch một đường từ vai xuống đến bụng nạn nhân và dừng ở đây trong nháy mắt. Chiếc áo trùng mầu gụ mà bác Lý đã nâng niu mặc trước khi bị dẫn đến đây chỉ nghe “soạt” một tiếng đã lã chã banh khỏi ngực. Chiếc yếm trắng của bác cũng bị cắt thành hai mảng. Một vệt máu đỏ hỏn rịn ra từ vết thương ngực. Đôi ngực trắng phau không còn gì che chở để lộ hai chiếc núm vú nâu đậm như đầu ngón tay cái phơi bầy ra tất cả. Đôi núm vú đã là nguồn muôi dưỡng bao nhiêu con cái và chính nó cũng là nguồn sống cho một đứa bé gái mồ côi mẹ khi bước chân vào đời. Đứa con gái đó chính là Gái. Gái đang ngồi đây để hành hạ con người đã đem cho nó nguồn sống, đem cho nó cuộc đời! Nguồn sống mà ngày nay nó đã đang tâm mạ lị, lăng nhục không tiếc lời.

Gái vỗ tay đôm đốp và cất tiếng cười chế nhạo:

“Các đồng chí đã nhìn đôi ngực của con mụ này không! Đây là máu mủ nhân dân nuôi dưỡng và tạo thành đấy. Nó là kết tụ của bao xương máu nhân dân ta mà ra!”

Bác Lý cố gắng gượng thều thào trong giọng nói:

“Các người! Các người! Đã giết chồng tôi chưa đủ hay sao. Các người giết tôi đi! Các người đừng hành hạ tôi! Tôi có tội tình gì đâu! Xin các người!”

Bác Lý chỉ thều thào được bấy nhiêu và để rồi ngất đi trong mê man không còn biết gì! Đầu bác gục xuống!

Khung cảnh im lặng nghe thấy cả tiếng vù vù của bầy ruồi bay!

Nhưng thân hình bác bỗng dẫy nẩy lên và bừng tỉnh dậy khi những gáo nước lạnh tới tấp hắt vào mặt bác. Nước và máu hòa lẫn lộn nhuộm hồng cả chiếc ngực trắng phau phau đang để tơ hơ không còn gì che đậy cả!

Bác Lý lại gắng gượng cất tiếng nghẹn ngào:

“Xin các người! Xin các người hãy nghĩ tới tôi! Đến gia đình tôi! Đến con tôi! Con tôi cũng đi kháng chiến! Con tôi cũng đang đóng góp cho cách mạng!” Bác nói đến đây bất chợt buông một tiếng nấc khô khan. Đôi mắt lờ đờ như mất hồn. Bác sẽ kêu lên: “Giời ơi đau quá, xin giết tôi đi đừng hành hạ tôi! Tội nghiệp tôi!” bác cất tiếng rên thảm thiết. Đôi mắt mờ nhòa hình dung đứa con ruột thịt đang ngạo nghễu trong chiếc áo “trấn thủ mầu hồng”để được ca tụng là “Trung đoàn quyết tử Thủ đô”. Chiếc áo đã do chính người ở địa vị cao nhất thời đó đến tận nơi khoác mặc vào người cho con bác khi chỉ huy trận đánh đặc biêt tại chợ Đồng Xuân Hà Nội ngày nào.  

Chị Chung cười khinh bỉ dơ đôi tay xỉa xói về phía bác Lý:

“Này con mẹ kia. Cách mạng của nhân dân chứ không phải cách mạng của mày! Cậu Kính đâu có phải là con mụ. Mụ đâu có sinh ra cậu Kính! Cậu Kính là con nhân dân. Nhân dân sinh ra cậu. Đừng có nhận vơ! Nên nhớ cậu Kính là con của nhân dân! Nghe không! Con của nhân dân!” Chị dằn vặt nhắc đi nhắc lại: “Con của nhân dân! Con của nhân dân! Nghe không! Nghe không!” Vừa dứt tiếng Chị sấn tới phía bác Lý dơ cao bàn chân đạp ngay vào ngực bác. Chị lùi lại vài bước để lấy đà đạp tiếp mấy đạp mạnh hơn nữa. Thân hình bác Lý thóp dí lại rồi phồng lên để hứng những chiếc đạp như trời giáng xuống. Một thân thể bị trói cheo leo dính vào cột đình như một khối thịt gần như bị tê liệt bất động hoàn toàn.

Bác Lý chỉ còn là cái xác không hồn. Người đứng xa có cảm tưởng là bác đã chết rồi. Nhưng những kẻ đứng gần đấy chúng vẫn theo dõi những hơi thở phập phồng trên chiếc lồng ngực nay đang nhuộm đỏ máu hồng vẫn còn thoi thóp. Bác vẫn còn sống! Bác mê đi không còn biết gì. Tâm hồn chơi vơi như đang bay bổng trong không gian. Bác văng vẳng nghe thấy như một âm thanh từ đâu đến. Bác thoáng hiện trong đầu ngày nào bác trai đã bị hành hạ đánh đập không ngừng cho đến khi chết. Bác mường tượng như đang nhìn thấy hình ảnh người chồng đang sống ẩn dật ở một khu phố tại thành phố Hà Nội và vào một đêm có những người lạ ập vào nhà bắt bác trai quỳ gối xuống đất để nghe tuyên đọc bản án. Họ đã điệu bác trai ra khỏi nhà để đẩy bác vào chiếc xe cũ và mang ra khỏi thành phố. Trên con đường từ Hà Nội về Hưng Yên họ đã đẩy bác ra khỏi xe xuống mặt đường nhựa và bắt bác đeo một chiếc gông. Đây là chiếc bắp cầy dùng cho trâu bò kéo cầy. Họ đem bác về quê hương để xử tội. Trên con đường nhựa hơn sáu chục cây số dưới cái nắng chang chang của mùa hè. Một thân hình cao lớn đã lao đao bước đi dưới những trận roi mây như mưa quất trên thân thể cùng đấm đạp để thúc giục bước nhanh hơn. Bác vẫn cố gắng để đi. Nhưng sức người không phải là sắt thép. Bác đã quỵ ngã khi bước tới chân đê Dốc Lã. Bác đã chết ngay sau những hành hạ của những con người không còn nhân tính. Xác bác đã được bọn họ kéo sang bên lề đường. Họ  đào vội một chiếc hố ngay dưới chân đê và hất xác bác xuống đó để rồi vùi đất qua loa cho xong chuyện.

Được tin này bác gái đã cùng mấy người em và người trong họ lần mò đêm hôm để cùng nhau khiêng xác bác trai về làng. Trong khung cảnh tao loạn ruộng đồng nhà cửa cũng như của cải đã vào tay người khác không ai nghĩ tới việc tìm một chỗ nào trong ruộng đồng để chôn. Tất cả đã lén lút và chôn bác ngay trên gò cổng ngòi. Nơi chốn mà bác trai vẫn thường năng lui tới để nhìn trời đất và ruộng đồng hay nghỉ chân sau những giờ phút cầy bừa mệt nhọc dưới thửa ruộng ngay chân gò. Bác đã được nằm chung với những ngôi mộ của những người vô thừa nhận. Nằm đây bác cũng đã được chứng kiến ruộng đồng của tổ tiên để lại chỉ một sớm một chiều không còn nữa. Chúng đã vào tay người khác. Qua những trận cướp của những tên ăn cướp ngày. Ngay mấy sào ruộng dưới chân gò cổng ngòi nơi đã đem lại những luống khoai sọ mầu mỡ cũng đã lọt vào tay người khác. Bác đã  không còn may mắn để có được một mảnh đất nhỏ. Dù là một mảnh đất thật nhỏ. Mảnh đất để nằm nơi mà bác đã dầm mưa dãi nắng trong việc cầy bừa vun sới!

Khung cảnh xử tội như lắng đọng vì nạn nhân không còn cử động hay phản ứng gì.

Nhưng bỗng chợt có tiếng người xô ghế để đứng dậy. Tiếng ghế xô mạnh đến độ làm tất cả đám người tụ tập như chúi mắt về tiếng động. Đó là tiếng đạp ghế của cô Sơ. Cô Sơ đứng dậy đạp ghế đổ về phía sau. Chiếc ghế nghiêng ngả đè vào lớp cán bộ trong làng đang ngồi phía sau. Cô Sơ lững thững bước ra giữa sân đình. Tiếng guốc đập trên sân gạch phát ra những tiếng lộc cộc như ngân nga trong cái im lặng chờ đợi của mọi người.

Khi viên xã trưởng Biện nhìn thấy cô Sơ tiến về phía sân đình. Gã cung kính lùi lại vài bước để nhường chỗ cho cô Sơ. Gã cũng không quên kính cẩn gật đầu chào hỏi:

“Kính chào cô! Cô có  chỉ huấn gì cho tụi con?” Chiếc mã tấu vẫn lăm le trên tay gã.

Cô nhìn trừng trừng vào mặt Biện. Bất chợt cô chụm miệng nhổ toẹt một bãi nước bọt vào ngay mặt Biện. Trong lúc vô tình gã không phản ứng kịp để dơ tay che đỡ. Bãi nước bay thẳng ngay vào chính bên mắt phải hắn. Gã dơ tay chùi lớp nước bọt nhơ nhớp đang dính chặt trên mặt. Mặt gã tím bầm lại. Gã tức giận đến cực độ nhưng không dám làm gì. Gã chỉ vung tay để cố xua đuổi lớp nước bọt còn sót vẫn cố  bám chặt trên tay mình không chịu thoát đi! 

Cô Sơ khoa chiếc gậy trước mặt và dõng dạc nói:

“Tụi bay là những người vô nhân bất nghĩa. Cổ nhân bảo ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Tụi bay ăn quả nhưng không biết ơn người trồng! Ai đã đem đến cho tụi bay những trái chín thơm ngon. Phải chăng những quả chín không trồng mà mọc hay sao! Tao giam mình trong nhà nhưng tao vẫn theo dõi từng bước một tất cả những diễn biến bên ngoài. Bay cứ tưởng tao đóng cửa không biết gì đang xẩy ra trong làng trong nước hay sao. Bay nhầm! Tao biết chứ. Tao biết hết. Qua những tấm mành thưa tao nhìn thấy tất cả. Gia đình bác Lý là người nhân nghĩa. Trong lúc bác quyền hành sinh sát trong tay. Bác đã không hành động dùng quyền làm việc ác. Tao biết. Chỉ một lời báo cáo với Tỉnh hay với Huyện là thân thể con này, thân thể tao đây!, nay không còn đứng đây nữa. Tao đã bị gửi hay bắt đi  hay đưa đến trại tập trung cùi hủi tại những nơi rừng thiêng nước độc từ lâu rồi. Bác đã không làm. Ơn dầy nghĩa nặng tao thầm cám ơn nghĩa cử đó. Tất cả đã giúp tao có thể được sống ẩn núp, yên ổn ngay trước mặt nhà bác cho đến ngày nay. Bay đã đang tay giết người nhân nghĩa để rồi vùi xác dưới chân đê! Vẫn chưa thỏa lòng thâm độc. Hôm nay bay lại tụ họp ở đây nơi ngôi đình ông cha tạo dựng dù nay không còn nguyên vẹn để hành hạ người đàn bà vô tội chân yếu tay mềm kia! Bác gái có thù hằn gì! Một người đàn bà nhân đức, phúc hậu. Nếu không có bà thì liệu mày còn sống đến hôm nay hay không!” Cô vừa nói vừa chỉ chiếc gậy về phía Gái. Cô Sơ mải mê nhiếc mắng muốn đem tất cả bực tức bộc trực của mình ra hết khi nhìn thấy những hành động vô lương tri đang diễn ra trước mắt. Nét tức giận như bừng bừng mỗi lúc một cao hơn. Khuôn mặt cô như đanh lại. Tất cả gân cốt cùng những đốm sần sùi như được thể nổi dậy hiện rõ rành rành trên nét mặt to lớn bầu bĩnh.

Cô Sơ không ngừng ở đây. Cô hành động tức thời, cô vung tay đưa chiếc gậy lên cao và cô tới tấp dùng gậy vụt vào đầu và vào người Gái. Cô đã đánh đập không nương tay. Trong khi cô vừa đánh vừa kêu:

“Mày là con đĩ! Tao tưởng mày đã đi khuất mắt tao rồi chứ! Bao năm tháng nay chui rúc ở đâu! Ai ngờ nay lại hiện về đây! Mang tai mang họa cho dân làng. Dòng giống của họ Chu đâu có ai như mày! Mày không thương ngay cả cha mày! Vậy mày còn thương ai! Mày thương ai đây! Quân khốn nạn! Quân khốn nạn! Kẻ bán linh hồn cho quỉ! Tao sẽ giết mày để cho bầy lũ vô nhân biết thế nào là nhân nghĩa! Để dạy cho tụi bay một bài học làm người! Thế nào là tình thương! Thế nào là tình người!”

Trong cơn bực tức và ra tay hành động nên cô Sơ không màng tới tất cả những phương tiện cố gắng che đậy một thân hình bệnh hoạn của mình. Cánh tay trái cô vung vẩy để theo đà gậy quật xuống thân thể Gái nên lúc này mọi người mới được chứng kiến chiếc bàn tay cụt lủn của cô. Bàn tay không còn ngón. Nó sù sì như một đụn thịt. Chiếc khăn vuông bịt đầu cũng theo tác động  để tụt dần xuông cổ. Tất cả để lộ một chiếc đầu trọc lốc không tóc tai và đôi tai teo lại nhỏ xíu. Tất cả không mang một hình dáng của người bình thường. Một dị hình do bệnh hoạn gây nên!

Hành động của cô Sơ đột nhiên quá. Ban đầu Gái vẫn đinh ninh chẳng có chuyện gì sẽ xẩy ra cho mình hay cho cả buổi xử  tội này. Nhưng khi chiếc gậy tới tấp vụt xuống thân hình mình, Gái chỉ có phản ứng kịp là đưa đôi tay ôm đầu che đỡ. Gái cũng không còn phản ứng gì để ngăn cản hay sai bảo bọn cán bộ trong làng phải đối xử  làm sao để ngăn chặn hành động vũ bão này. Gái chịu trận trong chiếc ghế.

Chỉ trong giây lát Biện và bọn thuộc hạ đã lấy lại được bình tĩnh. Nhưng tất cả vẫn đứng ì ra ngắm nhìn. Chúng không biết phải làm sao. Chúng sợ người đàn bà đang giận dữ kia. Người đàn bà đang mang một chứng bệnh bất trị. Chúng muốn xông vào can gián nhưng chúng không giám. Đụng vào người đó ư! Đó là đụng vào sự chết. Chúng nhìn thấy. Đến lúc này mới lộ liễu  ra tất cả những ích kỷ của con người. Con người sợ chết! Sợ bị lây bệnh hoạn! Biện vẫn cầm chiếc mã tấu trên tay. Gã quấn quít chạy quanh để hò hét:

“Này các đồng chí! Còn đợi gì nữa! Phải ngăn cô đi chứ! Người gì mà điên như vậy!” Gã nói vậy nhưng gã không nhẩy vào cuộc.

Có lẽ tuổi tác và bệnh hoạn nên cô Sơ chỉ đủ đánh đập và giận dữ trong vài phút. Những nhát vụt của cô thưa dần và yếu ớt hơn. Nhân cơ hội, Gái nhanh nhẹn  tuy đã chịu đòn khá nhiều nhưng chỉ trong khoảnh khắc  đã ù té bỏ chạy. Gái đã thoát ra được vùng gậy vụt. Cô Sơ mất trớn ôm bụng thở hổn hển. Cô dựa vào chiếc gậy để lấy thăng bằng. Cô không tha. Cô loạng quạng chống gậy đuổi theo. Nhưng cô không tài nào bắt kịp Gái. Cái hình ảnh cao lêu nghêu và loạng choạng bước đi lại hiện ra trước mặt mọi người. Nhưng nay trong khung cảnh khác. Khung cảnh săn đuổi chứ không chạy trốn né tránh tầm mắt con người. Gái đã chạy ra khỏi phía sân đình để lẩn vào ngõ mất dạng. Cô ngơ ngác ném đôi mắt tìm tòi trong ngõ hẻm. Sức lực một con người bệnh hoạn đã không cho phép cô đủ nhanh để bắt kịp con mồi. Cô nhớn nhác tìm quanh nhưng không thấy gì!

Biện đã ra lệnh cho bọn thuộc hạ đứng thành hàng dài ngăn chặn không cho cô Sơ trở lại sân đình. Chúng đợi chờ. Nhưng cô Sơ không xuất hiện nữa. Nhóm dân làng bắt buộc phải ra đây tụ tập đã chứng kiến. Họ đã giữ im lặng khi cuộc xử tội diễn ra. Họ lặng lẽ bảo nhau để tản mát ra về. Lúc này mặt trời đã xuống thấp. Ánh hoàng hôn của buổi chiều tà đã chính thức bắt đầu. Khung cảnh buồn tênh. Hình ảnh người đàn bà bị trói buộc máu me đầm mình vẫn cô đơn một mình bên chiếc cột đình gỗ lim. Không có gì thương đau, tủi hờn hơn. Có những khuôn mặt buồn, lặng lẽ cúi đầu không phản ứng. Tình thương tràn đầy thật đấy nhưng họ sợ liên lụy. Hận thù như một cái hố sâu ngăn cách. Mỗi ngày một sâu hơn chẳng làm sao san bằng lấp kín được! Hình bóng cô Sơ, một người hủi và hình bóng của một chế độ chẳng khác nhau là  bao nhiêu! 

 Sân đình vắng người dần! Biện và thuộc hạ tụ lại bàn bạc. Có những tiếng gắt gỏng của Biện. Gã lầm bầm:

“Đ.M. Phá đám! Đang vui thì xuất hiện quỉ dạ xoa!”

Có tiếng chêm vào:

“À không ai mời mọc! Mà sao bà ta biết!”

Biện gắt:

“Mày không nghe tiếng loa ầm ầm rồi trống làng thì thùng thúc giục hay sao!”

“Rõ là cái vạ!”

“Này thôi ai về nhà nấy! Tối đến nơi rồi!”

Chúng nói với nhau:

“Còn con mụ kia thì sao?”

“Cứ thây kệ nó! Trói buộc vào cột đình như  vậy! Đố cũng chẳng thoát được đâu!”

“Sớm mai sẽ tính!”

“Ngộ nhỡ bà ta chết!”

“Đem vất mẹ nó xuống hố ngoài bãi tha ma thế là xong chuyện!”

“Ngộ nếu có người gỡ thừng giúp mụ trốn thì sao?”

“Ngốc như mày, sân đình cách điếm canh vài trăm bước! Các vàng cho bạc cũng chẳng kẻ nào dám vào! Thôi về đi!”

Tiếng bàn tán léo xéo thưa dần. Những bóng người khuất dạng khi màn đêm bắt đầu xuống. Tiếng giun dế vang động trỗi dậy trong không gian vắng lặng.

Trời tối đen như mực. Giáp mặt không thấy nhau. Ánh đêm đem theo cái lạnh lẽo mỗi lúc một nhiều! Cơn đau thấm dần vào cơ thể. Bác Lý cất tiếng rên se sẽ! Bác Lý trai không còn nữa! Con cái không một ai bên mình. Chúng đang ở đâu? Phương trời nào! Niềm cô quạnh như vây kín quanh mình. Bác tỉnh bác mê. Bác cảm thấy thân thể mình lạnh ngắt. Ước gì có một chút ánh lửa nhỉ. Chỉ một chút thôi để sưởi ấm lòng mình. Một làn hơi ấm! Nhưng quanh bác chỉ có một mầu đen. Chỉ có lạnh lẽo, sương sa. Sương sa mỗi lúc một nhiều. Lăn tăn như những hạt mưa phùn. Bác mơ những ngày êm đẹp xa xưa. Khung cảnh gia đình yên ấm! Giờ đây bác bị trói buộc và nằm đây! Bác chờ đợi gì! Chờ đợi tử thần quanh quẩn hay lảng vảng đâu đây! Bác nghĩ chỉ có một phép lạ bác mới hy vọng thoát cảnh này. Bác ứa nước mắt. Những giọt nước mắt lã chã đua nhau lăn trên gò má. Bác dơ tay ra định chùi những giọt nước mắt đọng trên mi. Nhưng chân tay bác bị trói chặt. Thân thể đang phơi bầy làm mồi cho bầy muỗi mòng. Bác mê đi và thiếp trong giấc ngủ.

Trong bóng đêm đen như mực ấy bỗng xuất hiện một bóng đen. Bóng đen bước đi thoăn thoắt hẳn là đã thuộc rõ đường đi nước bước. Bóng đen tiến về phía bác Lý. Một bàn tay mảnh mai dơ tay sờ đầu bác Lý. Bàn tay đặt lên trán. Bóng đen áp tai vào ngực bác Lý. Tiếng tim đập nhịp nhàng. Nét vui mừng hiện ra trên nụ cười qua trong ánh đêm đen đặc. Bóng đen rút trong túi ra một chiếc kéo. Chiếc kéo mạ bạc lấp lánh dưới ánh sao đêm. Bàn tay mảnh mai lần lượt tìm kiếm những mối nhợ trên người bác Lý. Tiếng kéo đưa đi ngọt sớt không một tiếng động. Chiếc kéo đã vô hiệu hóa những sợi thừng oan nghiệt. Bàn tay bắt đầu lần mò đến mái tóc. Bàn tay vuốt mái tóc thật trìu mến và thân thương. Bàn tay cố gắng tháo gỡ dường như muốn gìn giữ mái tóc óng ả này. Nhưng không được. Có tiếng chép miệng nhè nhẹ chỉ đủ cho mình nghe. Thế rồi ánh kéo lấp lánh trong đêm quanh những mớ tóc bện kết. Có tiếng kéo cắt sừn sựt quanh đầu bác Lý. Bóng đen nhẹ nhàng nâng chiếc đầu bác Lý kéo vào lòng mình. Bóng đen ôm chặt bác Lý để truyền hơi nóng từ mình sang bác Lý.

Như đã được dự trù trước, bóng đen với chiếc áo đụp mang theo người và mặc vội vào cho bác Lý. Bóng đen cố nâng bác đứng dậy. Nhưng có lẽ sau một ngày trói buộc và hành hạ cái thân thể mềm yếu kia không còn đủ sức chống đỡ để đứng dậy được. Biết vậy, sau khi mặc áo vào cho bác Lý, bóng đen đã vội vã vung tay gạt những gạch ngói lổn nhổn trên mặt sân đình và đặt bác Lý nằm duỗi thẳng trên mặt đất. Bóng đen cũng không quên bắt đầu thoa bóp thân thể bác. Giây phút qua đi trong thấp thỏm. Bóng đen ngửng mặt nhìn trời qua những vì sao đêm để biết thời điểm lúc đó là lúc nào. Bóng đen cũng không quên ngước nhìn điếm canh vào làng đang nằm bên trái đình. Đêm còn dài bao lâu nữa đây! Ôi thời gian sao mà quí như vậy!     

 Chiếc áo đụp mặc vào người đã đem lại hơi ấm. Những thoa bóp luân lưu trên cơ thể bác Lý đã giúp bác tỉnh táo một phần nào. Bác bắt đầu cử động chân tay nhưng vẫn còn yếu. Bóng đen áp miệng vào tai bác Lý thì thầm dường như sợ có người trong điếm canh nghe thấy:

“Em đây này! Chị! Chị có nghe em nói không”.

Giọng bác Lý thều thào như người hết hơi:

“Ơ ờ! Dì … à!” rồi lại im bặt.

Bóng đen đó không ai xa lạ đó là Dì Đoàn Tường. Người em ruột của bác Lý gái. Dì đã theo dõi diễn biến đã xẩy ra từ lúc bắt đầu cho đến khi chấm dứt. Dì đã quan sát kỹ lưỡng chung quanh và trên sân đình. Dì Đoàn đã núp mình dưới những bức tường cao quanh đình để tránh những con mắt cú vọ của Biện và bầy tôi của gã. Dì lấm lét không xuất hiện hay ra mắt. Dì kiên nhẫn đợi chờ. Dì đã lau nước mắt mỗi khi nhìn thấy người chị ruột thịt là bác Lý đang bị hành hạ và đánh đập. Niềm vui mừng khiến Dì cười bâng quơ khi nhìn thấy cô Sơ vung gậy đánh Gái. Vì ở xa Dì cũng không nghe được nội dung những lời mắng chửi. Dì lầm bầm cám ơn Trời Phật khi nhìn thấy hoạt cảnh tán loạn. Nếu không có sự xuất hiện của cô Sơ ắt mạng sống của bác Lý đã bị quyết định vào lúc nhá nhem tối hôm nay rồi không chừng!

Dì nâng bác Lý dậy. Bất thần bác Lý như được tiếp sức. Bác cong người cố nhỏm dậy để bám vào vai em. Dì kéo vòng tay bác Lý quanh cổ mình. Tay phải dì ôm lưng bác Lý dìu đi. Dì đã tính toán kỹ lưỡng phải mang bác Lý khỏi nơi này ngay bây giờ. Phải mang người chị ra khỏi làng nội đêm nay. Thân hình Dì gầy guộc nhưng Dì khỏe mạnh. Dì có đủ sức làm công việc này. Dì quyết định như vậy. Tình thương ruột thịt bao la chẳng có gì ngăn cản được. Dì thương chị. Bác Lý bất chợt thều thào nói vọng sang phía người em:

“Dì tính đưa chị về nhà à?”

Dì Đoàn vội vã bịt miệng chị và ghé sát vào tai bác Lý thầm thì:

“Chị ơi! Tụi nó trong điếm canh kia kìa! Nó mà nghe thấy thì chết! Không có nhà cửa nào hết! Em đi đâu chị theo đó! Nghe không!”

Bác Lý lúc này sực tỉnh dơ tay đập nhẹ lên vai Dì Đoàn để bầy tỏ hiểu Dì Đoàn nói gì.

Hai thân hình bám vào nhau để lần mò bước đi trong  đêm tối. Chốc chốc Dì Đoàn không quên ngẩng đầu lên trời đen như mực để nhìn sao đêm. Dì tính toán. Từ sân đình Dì đã dìu bác Lý không đi qua vùng điếm canh làng. Dì biết điếm canh chẳng cách đình ngoài bao xa. Ánh đèn le lói chiếu lờ mờ từ điếm canh thoát ra báo hiệu trong đó có người. Dì đã khôn ngoan đi vòng phía trước ao đình. Dì cũng bắt chị phải xuống ruộng để đi không dám đi trên bờ ao đình. Vì bờ ao đình cao sẽ không tránh khỏi bị nhìn thấy. Dì cũng quyết định không dùng đường đồng để lên đê vì đường đồng thênh thang không có gì để che ẩn nếu một khi mặt trời mọc mà vẫn chưa vào được làng kế bên. Tất cả đã được sắp xếp trong đầu Dì. Lúc này chỉ việc thực hiện những suy nghĩ sẵn có. 

Dì cũng vội vã kéo bác Lý nằm sấp xuống vệ đường nếu thấy có bóng dáng người đi tới hay bất cứ động tĩnh gì. Họ đã đi xuyên qua những thửa ruộng phía trước cửa đình làng và qua Xóm Cui trước khi lần mò bước vào đường  cái của làng. Trong cái bóng đêm đen đặc đó họ đã dìu nhau như hai bóng ma trên con đường thanh vắng. Bác Lý mệt mỏi cả thân hình lẫn thể xác. Bác bám vào người em để bước đi. Lúc đó vào khoảng quá nửa đêm thì hai chị em đã gần đến trại của ông Bá. Bỏ cách làng khá xa. Cả hai đã nhìn thấy con đường vào gò cổng ngòi. Bác gái ngước nhìn vào gò cao. Khung trời đen đặc nhưng trong vắt. Những vì sao đêm trên trời lấp lánh nhưng vẫn không đủ sáng. Bỗng bất chợt một ngôi sao đổi ngôi chạy dài trong đêm tối đã làm bừng sáng khung trời. Bác Lý níu em để dừng lại. Bác chỉ lên trời một vệt sáng chạy dài như một tên lửa đang bừng bừng tung tóe ánh sáng khắp nơi.  Trên gò đống cổng ngòi cao bác gái đã mường tượng đến cái ngày bác và các em trong họ đã vội vã chôn cất bác trai trên vùng đất cao kia. Nấm mồ bác trai chưa xanh cỏ. Bác ứa nước mắt và gục đầu vào vai em! Dì Đoàn ôm chị vào lòng cất tiếng nói:

“Chuyện đã qua rồi phải không chị! Mình phải dời khỏi nơi này càng sớm càng hay! Nghe em đi!”

Bác Lý dơ tay chùi nước mắt và nói với em:

“Chị muốn thăm mộ anh! Chẳng biết bao giờ mình quay lại đây! Em nghĩ sao?”

Dì Đoàn đáp vội:

“Nếu chị muốn nhưng chị có đủ sức leo gò cao không!”

Bác Lý cười thành tiếng:

“Chị khỏe! Có em bên cạnh chị vững tin”

Dì Đoàn giao hẹn:

“Chị phải hứa lên rồi xuống ngay không lân la đấy!”

“Chị hứa!” Bác Lý đáp lời.

Thế là hai bóng người lại dìu nhau leo lên gò cao. Bác Lý bỏ người em để chạy vội lại ôm nấm mồ nức nở khóc. Tiếng khóc ấm ức không thành tiếng! Những tiếng nấc làm thân hình bác rung động.

Dì Đoàn tiến gần và kéo chị dậy:

“Đường còn dài. Mình phải ra khỏi địa phận để đi càng xa càng tốt. Đây không phải chỗ nương thân!’

Hai hình bóng lại tất tả xuống gò để lầm lũi vượt qua trại cụ Bá và vào làng Đống Lương. Ngoảnh lại Dì Đoàn thấy đường đi cũng chẳng được bao xa. Dì lại giục dã bác bước nhanh hơn. Có tiếng gà gáy. Đêm chẳng còn bao lâu. Đến mờ sáng thì cả hai đã bước vào làng Tiên Cầu. Dì dìu bác vào một quán nước. Buổi sáng tinh mơ không bóng người. Dì kéo bác Lý ngồi trên ghế nhà hàng. Dì ngắm nhìn bác Lý. Những vết tát vả còn hằn trên mặt. Khuôn măt hiền từ phúc hậu đang sưng vù lên. Dì vuốt mặt chị. Dì nhìn bác. Bỗng Dì lắc đầu miệng lầm bầm:

“Mái tóc coi không được. Cứ để cái đầu như vầy là không ổn đấy. Trăm nghìn con mắt sẽ ngó vào cho mà xem! Không chừng lại bị rắc rối nữa!”

Dì nhanh nhẹn vỗ áo tìm kiếm vật dấu trong người. Bàn tay ngừng lại và Dì kéo trong vạt áo lấy chiếc kéo ra. Chiếc kéo định mệnh. Không có chiếc kéo này hẳn bác Lý chẳng ngồi đây. Dì ngắm nhìn chiếc kéo mỉm cười sung sướng và nhanh nhẹn sửa lại mái tóc bác bị cắt lởm chởm lúc đêm tối. Lưỡi kéo sắc bén đã đem mái tóc của bác về thứ tự và đều đặn hơn.

Giây phút dừng chân coi như đủ. Dì lại kéo bác Lý đứng dậy để tiếp tục cuộc hành trình. Bác Lý ngoan ngoãn theo em không đặt câu hỏi mình đang đi đâu. Nhưng vốn sinh sống trong một gia đình tiền dư bạc để. Bác ít khi phải chật vật với công việc hàng ngày. Hoàn cảnh đã thúc đẩy vào nghịch cảnh. Thân gái dậm trường. Hai chị em đã phải đi bộ suốt ngày đêm để đến Hà Nội.

Cái biết nhìn xa trông rộng của bác Lý trai đã là một niềm an ủi không những cho thế hệ con cái và tất cả thế hệ sau này. Hãy tưởng tượng nếu bác Lý trai đã hài lòng về cuộc sống sung mãn và của cải tổ tiên để lại không bao giờ nghĩ đến việc ném những đứa con vào trong nếp sống thị thành, ganh đua thì hậu quả một cuộc tắm máu viên miễn còn thậm tệ đến đâu và hận thù sẽ sâu đậm đến chừng nào. Thế hệ và giòng giống của bác Lý sau này đã nhìn lại hoạt cảnh diễn ra và phải nuối tiếc cho những con người ngu dại, điên rồ đem hận thù xây dựng tương lai! Tất cả rồi đây chẳng khác gì xây nhà trên cát. Một cơn sóng vỗ nhẹ mai này sẽ cuốn tất cả chìm sâu xuống đáy biển. Chúng sẽ chẳng để lại một dấu tích gì hùng tráng hay cao đẹp cho những thế hệ sắp đến.    

Bác đã ôm một phần các con trong vòng tay. Trong khoảnh khắc bác mường tượng đến những đứa con khác đang trên chân trời xa tắp. Vòng tay của người mẹ vừa thoát khỏi địa ngục trần gian!  Vết nhơ như hằn khắc vào tâm khảm chẳng bao giờ phai nhòa. Đôi bàn chân nhuốm máu, có những giọt máu đông đặc keo quánh lại nhưng cũng vẫn có những giọt máu tiếp tục nhỏ từng giọt nhưng mà trong lúc này sao bác không cảm thấy đau. Niềm sung sướng của cuộc đời như vừa tái sinh! Trong cuộc đời bác, đôi chân này chưa bao giờ đã phải dẫn dắt bác một cuộc hành trình đi bộ dài như vậy. Bác nhìn thấy những đốt xương ngón chân bị tróc hết thịt da và chỉ còn mầu trắng phau phau.  Nhìn vết thương nơi chân nước mắt bác cứ thi nhau tuôn ra! Bác đâu có ngờ! Lại có những giây phút được nhìn thấy đàn con tíu tít và quấn quít bên mình. Quả thật ông trời đã có mắt.

Bác gieo mình lên chiếc sập gụ mà lúc sinh thời bác trai đã thuê mướn người chuyên chở từ quê hương lên Hà Nội. Bác giơ đôi tay để cố tìm lại cái không khí mát rười rượi của những ngày hè khi còn ở quê hương mỗi khi nằm trên chiếc sập này. Và giờ đây cũng trên chiếc sập này, bác tìm được một giấc ngủ êm ấm, phẳng lặng hồi xa xưa. Giấc ngủ đã đưa bác vào quên lãng tất như vừa trải qua một giấc mộng. Thế rồi bác tiếp tục nằm trên chiếc sập gụ này cho mãi đến năm bác được 98 tuổi đời mới vĩnh viễn ra đi. Tất cả là cơn ác mộng. Ác mộng không biết đã xẩy ra cho bao nhiêu gia đình trên dải đất nhỏ bé được gọi là Việt Nam!

Vũ Tùng Văn