web analytics

Trước tác Tinh Tú Ký Ức Thi hóa Ngân Hà Tình Tự

Trước tác Tinh Tú Ký Ức
Thi hóa Ngân Hà Tình Tự
“Chữ nghĩa rồng bay mờ biển cả  .
Văn thơ phượng múa mịt rừng sâu.”

Thăm thẳm trong vũ trụ tư duy với vạn góc cạnh phức tạp gói ghém vô vàn ký ức đặc sắc của kho tàng quá khứ quý báu như những tinh tú lấp lánh trên dải ngân hà đậm đà tình người.  Tịnh tâm lần từng hạt chuỗi ký ức quá vãng để điểm sơ qua từng dấu mốc thời gian có lẽ tâm tư nào cũng bừng tỈnh biến chuyển từ trạng thái ngạc nhiên đến cảm giác bồi hồi về vô vàn sự kiện đã xảy ra đối với một cá nhân thật vô cùng bé nhỏ trong vũ trụ thiên hà bao la. Có những ấn tích sâu đậm hoàn toàn nằm ngoài khả năng tự quyết nhưng cũng có biết bao hệ quả do chính sự nhận định suy đoán chủ quan nhất thời đã tạo ra.

Ký ức quá vãng được tâm thức cá nhân trân trọng bảo dưỡng trong vũ trụ tư duy. Tâm thức hiện hữu nhờ sự giao tiếp đa dạng giữa trí tuệ, tâm lýtiềm thức. Trí tuệ đón nhận các dữ kiện từ học thức đến kinh nghiệm xúc tác đa diện. Tâm lý là lăng kính suy luận đa chiều dựa trên cảm tính, tâm linh, tưởng tượng cùng nhiều yếu tố rung động kích sóng giác quan trực tiếp lẫn gián tiếp. Tiềm thức chi phối phương cách hành xử phản chiếu duy nghiệm bàng bạc từ kho tàng ký ức của quá khứ trang trải suốt cuộc đời.

Thật may mắn cho những cá nhân biết cẩn trọng lưu giữ ký ức đặc sắc da diện và đa dạng.

May mắn hơn nữa là những tao nhân có thể hạ bút minh họa tình tự ngọc ngà trong kho tàng quá khứ với những ấn tích vãng nhật sâu đậm trên đường đời trải dài từ giây phút ý thức trải nghiệm cho đến khoảnh khắc ráo mực trên trang giấy vừa sơ thảo.

“Kỷ niệm năm xưa xa diệu vợi
Nhớ nhung sao vẫn cứ đong đầy!”

Tuổi Học Trò

Hoài niệm ký ức đưa chúng ta về lại với những ấn tích quá vãng của thời gian, luyến tiếc cảm giác hạnh phúc, gợi nhớ kỷ niệm đau thương, ôn lại nhiều kinh nghiệm ấn sâu vào tiềm thức tác tạo nếp hằn trên khuôn mặt trải đời dạn dày phong sương và trong tâm hồn của sự thổn thức con tim lẫn niềm sôi động lý trí.

Trên dải ngân hà tình tự của vũ trụ bao la đậm đà niềm thương nỗi nhớ hiện diện một lữ khách chậm rãi, từ tốn, cẩn thận góp nhặt, chọn lọc trước tác tinh tú ký ức để thi hóa tình yêu, tình bằng hữu, tình chiến hữu, tình quê hương, nợ núi sông.

“Quê tôi vẫn có những con đường
Hun hút bốn mùa nắng với sương
Khói sớm ươm tình xây mộng ước
Gió chiều chở nhớ dệt yêu thương
Trên không, mây núi pha màu nước
Dưới lũng, hoa rừng tỏa sắc hương
Lắm lúc trời đang cơn rét lạnh

  Lối mòn nằm đó, nỗi buồn vương!”
         Những con đường

Trên quê hương đó bên kia bờ Thái Bình Dương xa vời vợi thuở nào chớm nở tình yêu ban đầu da diết với những ký ức thật đẹp, thật nhẹ nhàng nhưng khắc tạc biết bao ấn tích thật sâu đậm khó phai mờ trong tâm khảm của lữ khách.

“Cũng bởi vì yêu mới vấn vương
Chờ giờ tan học đón người thương!
Chập chờn gió lá lay vầng nguyệt
Thấp thoáng đèn trăng đuổi ánh dương.”
Tự hỏi

“Cái thuở hai ta chung bóng hình
Ngồi bên nhau ngắm ánh bình minh.
Nẻo xưa rảo bước mơ nồng ấm
Trường cũ ươm lầu mộng đẹp xinh.”
Còn nhớ chăng em

“Anh nhắn về em tỏ mấy lời
Lòng buồn sao bỗng thấy chơi vơi!
Mai kia, sông mộng xuôi dòng thác
Mốt nọ, thuyền mơ lạc bến đời!”
Lời này cho em

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.”  Đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, lữ khách “đáp lời sông hận” kề vai bao chàng trai Việt can đảm đem sinh mệnh đối đầu ngăn chặn cơn hồng lũ tan tác.  Chàng đi, nàng ở, kẻ mong, người chờ.

“Dựng quốc kỳ thiêng, tay sát cánh
Đáp lời sông hận, súng kề vai.
Đường gươm cứu nước đà trui luyện
Thanh kiếm an dân đã giũa mài.”
Bóng cờ bay

“Trận gió tàn thu quá bẽ bàng
Mang theo màu nhớ buổi chiều sang.
Người ra biên trấn nhiều nhung nhớ
Kẻ ở hậu phương lắm phũ phàng!”
Đêm giọt sầu đong

“Bao năm hương lửa tan mây khói
Một kiếp giang hồ thẹn núi sông!
Kẻ cắm sào ngang giăng mắt đợi
Người đi biền biệt, ngậm ngùi trông!”

Ai đưa con sáo sang sông?

Tháng tư hạ tay súng, tan chính nghĩa, xiết tình người.  Cả dân tộc bị đày vào đáy địa ngục do hồng quỷ cai quản tàn bạo theo sự chi phối của ngoại bang.  Nước mắt đau khổ chảy dài thành dòng sông thương tâm trong lòng triệu triệu người từ ải Nam Quan đến tận mũi Cà Mau.

“Anh em buông súng, niềm tin mất
Đơn vị rã hàng, hy vọng tan!
Non nước chìm nhanh làn sóng đỏ
Đồng bào quấn vội mảnh khăn tang!”

Mộng tan

“Chinh nhân buông súng lòng nhung nhớ
Dân chúng đeo sầu dạ ngẩn ngơ!”
Bão lòng

Đồng đội tan hàng, người chết nơi rừng thiên, kẻ lao tù tận núi thẳm. “Mấy năm binh lửa, người vương tội.  Một kiếp cùm gông, kẻ mất hồn!”

“Hai vai nợ nước quăng nguyên gánh
Một mảnh tình nhà xé nửa đôi!
Gió rít điệu ru khi giã biệt
Mưa gào điệp khúc lúc chia rời!”
Tâm sự người tù

“Lanh lảnh rừng xanh hai cữ dồn
Giật mình ngơ ngác, lệ chờ tuôn!
Mấy năm binh lửa, người vương tội
Một kiếp cùm gông, kẻ mất hồn!”
Điệu kẻng buồn

Dưới đáy cõi âm ý thức hệ có lẽ không nỗi lòng nào sâu đậm bằng nỗi lòng cha mẹ mong chờ ngày về của con hay tình vợ khắc khoải đắn đo lo lắng từng phút từng giây cho chinh phu bị đày ải trong lao ngục địch tù “Thân ốm trơ xương, áo cũng không! Ôm bụng đói chờ cơm lót dạ.”

“Bao nhiêu nôn nóng, bấy lần trông
Mong mỏi sao cho gặp được chồng.
Bốn bức thư chui, thăm một bận
Hai hàng lệ ứa, chảy đôi dòng!
Mắt sầu chở nhớ, quà đâu có
Thân ốm trơ xương, áo cũng không!
Ôm bụng đói chờ cơm lót dạ
Rừng già phong kín giấc mơ lòng…”

Tâm sự người vợ tù

Ra tù rồi ly hương nhưng lữ khách vẫn mãi nặng lòng với cố quốc xa thật xa mãi bên tận trời Đông.  “Lữ khách chưa quên tình đất nước, Sao lòng như mất một quê hương!” (Mất một quê hương).

“Tha hương ai thấu hiểu lòng ta
Bảng lảng chiều dâng mỗi chuyện nhà.
Nhìn sóng nhấp nhô thương xứ lạ
Trông mây vời vợi nhớ quê xa!
Sáng ra ngắm mãi làn sương sớm
Chiều lại mơ hoài vạt nắng tà.
Bến đó ngổn ngang cơn nước loạn
Bờ đây lã chã giọt châu sa!”
       Nỗi nhớ bên này

Bên bờ Đại Tây Dương xa xôi quê nhà lữ khách mãi ấp ủ ước mơ “Nung chí quật cường bao tháng hận, Dựng cờ phục quốc bấy mùa đông! Chung lưng đậu sức giành cương thổ, Đất nước an bình buổi sáng trong.” (Lửa Lạc Hồng).

“Lửa binh thiêu rụi đời son trẻ
Tuổi hạc chất chồng tóc bạc già!
Một gánh giang sơn còn nặng nợ
Làm sao cứu lại nước non nhà?”
Gỡ lịch

“Con Rồng sát cánh như thân thể
Cháu Lạc kề vai tựa bóng hình.
Cho dẫu thăng trầm nơi viễn xứ
Quốc kỳ phất phới cảnh an bình…”
Lá Cờ Xinh

Vị lữ khách chậm rãi, từ tốn, cẩn thận góp nhặt, chọn lọc trước tác tinh tú ký ức để thi hóa tình yêu, tình bằng hữu, tình chiến hữu, tình quê hương, nợ núi sông là Thi sĩ Nguyên Bông ở Orlando, Florida.  VH Nguyên Bông, tên thật là Trương Văn Bỗng, nguyên là Đại úy Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 312/Địa Phương Quân VNCH.  Cựu Đại Úy Trương Văn Bỗng đã được trao tặng 1 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc, 3 Huy chương Đồng, 2 Chiến Thương Bội Tinh và 2 Bằng Tưởng Lục của Quân lực VNCH.

“Người ngay, đứng thẳng không luồn cúi
Quốc biến, vùng lên phải đấu tranh.
Chí cả nương thời theo vận nước
Trương cờ đại nghĩa cứu dân lành.”
Chí anh hùng

VH Nguyên Bông tham gia Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại khá lâu và từng phụ trách nhiều vai trò khả trọng từ Phó Chủ Tịch đến Tổng Thư Ký trong các Ban Đại Diện Vùng ở Florida.  VH Nguyên Bông là một trong các thành viên sáng lập hội Văn Nghệ Tự Do và gánh vác vai trò Chủ tịch hội VNTD nhiệm kỳ 2014-2016.  VH Nguyên Bông có hai tác phẩm đã được ấn hành là Khung Trời Xuân Phía Sau (2011) và Hoài Niệm (2016).

Nguời viết diện kiến Thi sĩ Nguyên Bông lần đầu tiên trong đêm Tao Ngộ Bằng Hữu ở Orlando vào hôm 30-12-2016.  VH Nguyên Bông ít nói và hầu như nếu không chăm chú lắng nghe thì bằng hữu khó nhận ra hình dáng của một thi sĩ vững vàng về luật lệ Đường thi cũng như chịu khó trau chuốt kết từ chọn ngữ khi sáng tác. Trong đêm Tao Ngộ Bằng Hữu anh gởi tặng viễn khách từ phương xa tác phẩm mới nhất Hoài Niệm trình bày 10 truyện ngắn và 201 bài thơ.  Nguời viết hứa là sẽ đọc và đã nghiền ngẫm trong thời gian nghĩ lễ sau đó ở South Beach nhưng mãi đến gần đây mới suy ra được tựa đề Trước tác Tinh Tú Ký Ức thi hóa Ngân Hà Tình Tự phản ảnh thi ý đậm đà đa diện và đa dạng trong tác phẩm Hoài Niệm của VH Nguyên Bông.

Hai trăm lẻ một bài thơ trong tác phẩm Hoài Niệm được VH Nguyên Bông trước tác theo luật Đường thi.  “Luật đây là sáu luật, là luật hòa hợp âm thanh. Luật thơ cũng giống như kỷ luật dụng binh, pháp luật hình án, nghiêm ngặt chặt chẽ, không được vi phạm” (Tiền Mộc Yêm).

“Thể thơ Đường có người cho là toàn hảo nhưng cũng có vị đánh giá là gò bó điển hình như ‘một câu Thất Ngôn thì có hoặc 4 tiếng bằng 3 tiếng trắc, hoặc 4 tiếng trắc 3 tiếng bằng thì những tiếng bằng trắc ấy phải có thanh độ khác nhau..  Trong mỗi câu ít nhất là phải có 1 tiếng trường bình thì nghe mới êm…’ (Hoàng Thứ Lang).  Đó là chưa bàn đến chính vậnthông vận cùng biết bao thi lệ khác!
Vì vậy cho nên nhiều thi nhân bài bác sự gò bó “nghiêm ngặt chặt chẽ” của Đườmg thi trong đó có danh gia như Lý Bạch, Hàn Sơn từ lúc Đường thi thịnh hành chứ chẳng phải đợi chi đến đời sau.  Lý Bạch (701-762 TL) là thi tiên được Đường Minh Hoàng ưu ái ban quyền uống rượu miễn phí toàn quốc, được đánh giá là “kim cổ kỳ nhân” mà còn không gò ép thơ của ông theo phép Đường thi thì thi lệ có lẽ không hệ trọng bằng thi nhã hay thi ý.


Tâm đắc hay không tùy thuộc hoàn toàn theo quan điểm chọn lựa của mặc khách nhưng tựu trung thì thể thơ Đường có lẽ dễ thích hợp với tao nhân với tâm tồn tiết chế tình cảm, chú trọng nội tâm.”  (Trích “Đường thi vạn nẻo Ngõ thơ lượng tình” © Vịnh Thanh)

Nghệ thuật mang bản chất tuyệt mỹ riêng biệt hoàn toàn không tùy thuộc vào thi lệ hay văn pháp tuy vậy nếu lưu ý thì dễ thấy là từ xưa đến nay các bậc đại thi sĩ khi làm thơ Đường đều cẩn trọng trau chuốt gieo vần,chính vận hiện rõ trong bao thi phẩm kỳ tuyệt.  Hai trăm lẻ một bài thơ của VH Nguyễn Bông – một thi sĩ trầm tĩnh tiết chế tình cảm – được nhuận sắc chuẩn xác và cân đối với luật lệ Đường thi.

Nhân sinh chuyển hóa bao nhân ảnh
Thế sự vần xoay lắm cảnh đời!”
Bình minh trên biển

Khi lắng đọng dòng suy nghĩ để nghiền ngẫm các vần thơ trong thi tập Hoài Niệm, nguời viết chuyển từ trạng thái ngạc nhiên đến cảm giác tâm đắc không chỉ riêng về thi lệ mà còn bao gồm cả thi nhã thi ý của dòng thơ đậm đà tình yêu, tình bằng hữu, tình chiến hữu, tình quê hương, nợ núi sông của VH Nguyên Bông.

“Chữ nghĩa rồng bay mờ biển cả
Văn thơ phượng múa mịt rừng sâu.”
Bút Hoa

Đôi dòng kiến giải chuyển đạt tâm ý chân thành giới thiệu tác phẩm Hoài Niệm của Thi sĩ Nguyên Bông, một lữ khách chậm rãi, từ tốn, cẩn thận góp nhặt, chọn lọc trước tác tinh tú ký ức để thi hóa dải ngân hà tình tự trong vũ trụ bao la đậm đà niềm thương nỗi nhớ.

Vịnh Thanh Dương Thành Lợi
Giữa rừng hoa tuyết tỏa sáng
Saint Valentine’s Day @ 14.2.2017

Bạn cũng có thể thích...