Mậu Tuất, Tản Mạn Về Chó

Nhất Hùng

Tiễn Đinh Dậu đi, đón Mậu Tuất về, người viết “tản mạn” như tôi không thể không có đôi điều về “chó”.

Trước hết chúng ta cũng nên biết sơ qua về nguồn gốc và đặc điểm của chó. Chó là loài động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa cách đây 15.000 năm. Tổ tiên của loài chó là chó sói. Loài vật này được sử dụng để giữ nhà hoặc làm thú chơi. Trong từ Hán Việt, chó được gọi là “cẩu” hoặc “khuyển”. Vì chó trông giống con cầy nên chó còn được gọi là “cầy”. Họ chó có tên khoa học là Canidae. Chó có mắt to, tai dựng, mũi nhạy, các giác quan như thị giác, thính giác, và khứu giác phát triển mạnh. Chó là loài “đi bằng đầu ngón chân”, chân trước có năm ngón và chân sau có bốn ngón. Đôi khi, chó nhà có năm ngón ở chân sau (móng thứ năm gọi là móng huyền). Chó là loài ăn thịt và thích nghi đặc biệt để săn mồi. Răng của chúng dùng để giết mồi, nhai thịt, gặm thịt và cũng để cắn nhau. Chó có hai lớp lông, ngoài lớp bên ngoài như chúng ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ “hạ nhiệt” trong những ngày oi bức. Người ta đã tính được rằng: chó 1 năm tuổi tương ứng với người 16 tuổi. Chó 2 tuổi tương ứng với người 24 tuổi, chó 3 năm tuổi tương ứng với người 30 tuổi và sau đó cứ thêm một năm tuổi chó bằng 4 năm tuổi người. Chó nằm trong “mười hai con giáp”, ở vị trí thứ mười một với chi Tuất và là một trong những con vật thuộc lục súc.

Trong Văn Học Dân Gian có nhiều chuyện liên quan đến chó như:
“Giết Chó Khuyên Chồng”
Chuyện kể rằng: Ngày xưa có hai anh em, người anh giàu có, còn em thì túng bấn. Nhưng người anh không đoái hoài tới em mình, trái lại chỉ thân thiết với bọn vô lại, rượu chè, cờ bạc. Vợ người anh thường khuyên chồng nên tránh bạn xấu, vì họ chẳng qua “khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”. Chồng cãi và cho rằng: “Các bạn tôi đều là những người tử tế cả, đừng nói hồ đồ!”
Vợ thấy can không được, bèn tìm cách cho chồng một bài học.
Một hôm chồng đi vắng, vợ ở nhà đánh chết một con chó to, rồi đem chiếu cuốn lại, cột dây thật chặt, xong để ở xó vườn. Tối đến, khi chồng về, vợ giả bộ sợ hãi, nói:
– Ban trưa, lúc mình đi vắng, có thằng bé đến xin ăn. Tôi chưa kịp cho, nó đã chửi rủa ầm ĩ. Tức mình, tôi phang cho một đòn gánh, không ngờ nhằm chỗ phạm, nó lăn ra chết. Tôi đành lấy chiếu bó xác để ở góc vườn. Bây giờ phải nhờ một người nào thân tín đến chôn giúp cho và giữ kín miệng, đừng để cho xóm làng biết.
Chồng nghe nói đến xác chết, sợ hết hồn, rồi liền nghĩ đến mấy ông bạn thân. Hắn vội chạy đi tìm họ, kể hết tình thực và nhờ họ chôn cất. Nhưng khi nghe xong câu chuyện của hắn, ông bạn nào cũng tái mặt đi. Sợ liên lụy tới mình nên ông nào cũng tìm cớ thoái thác. Cuối cùng năn nỉ khắp lượt mà không có ai giúp cả, hắn tiu nghỉu trở về nói cho vợ biết. Vợ bảo:
– Thế thì sang nhờ chú nó xem sao.
Hắn chạy đi gọi em, em đến ngay. Khi biết rõ chuyện, người em giục làm gấp. Đoạn em xắn áo giúp anh một tay, không nề hà gì cả.
Xong việc, chị vợ bảo chồng:
– Đó, đã thấy chưa! Nào mình còn mong chờ bạn hữu nữa thôi. Nếu không có chú nó thì làm sao lo liệu được cho ổn thỏa.
Chồng nghe vợ nói, có ý hối hận. Từ đó đối với bạn hữu có vẻ lạnh nhạt. Không ngờ mấy người bạn thấy thế, đến nhà giở mặt dọa nạt, đòi phải cho chúng tiền chúng mới chịu ỉm việc này đi cho. Nghe thế, chồng hoảng sợ, toan đưa tiền bạc ra đấm mõm chúng, nhưng người vợ nhất định không chịu, bảo họ muốn làm gì thì làm. Quả nhiên bọn vô lại thấy không xơ múi được gì, liền đem việc tố cáo lên quan trên. Quan tin, đây là một vụ án mạng thực, bèn xuống trát bắt hai vợ chồng. Trước công đường, người vợ khai, giết chó để thử bạn chồng và em chồng, rồi kể rõ đầu đuôi câu chuyện. Quan sai người đến chỗ chôn xác, đào lên thì quả nhiên chỉ là một cái xác chó.
Quan bèn tha cho hai vợ chồng về và sai lính đánh đòn mấy thằng bạn xấu bụng. Từ đó người chồng mới lánh xa những người bạn xấu và giúp đỡ người em ân cần tử tế.

“Chó Đá Vẫy Đuôi”:
“Chuyện kể rằng: Ngày xưa, có người học trò nghèo nhưng chịu khó dùi mài kinh sử chờ khoa thi Đình ở chốn kinh đô. Một hôm anh đi qua cổng làng thì con chó đá bỗng nhổm dậy vẫy đuôi mừng rỡ. Lấy làm lạ, anh học trò bèn hỏi. Chó đá đáp: “Khoa này thầy thi đỗ nên tôi mừng”. Anh học trò về kể lại cho cha mẹ; thế là từ đó người cha lên mặt hống hách với bà con, xóm giềng. Tháng sau, trước ngày đi thi, anh học trò đi qua cổng làng không thấy chó đá vẫy đuôi nữa, bèn hỏi tại sao. Chó đá đáp: “Tại cha thầy sớm lên mặt với mọi người nên khóa này thầy chẳng đỗ đâu”. Kỳ thi ấy, dù giỏi nhưng anh phạm luật trường quy nên không đỗ được. Người cha hối hận, từ đó lo tu nhân tích đức sửa chữa lỗi lầm. Còn anh học trò vẫn cố công dùi mài kinh sử. Khóa sau, anh học trò đi qua, lại thấy chó đá vẫy đuôi, quả nhiên, kỳ này anh đỗ trạng nguyên, vinh qui bái tổ về làng…

Trong Vật Tổ – Chó được xem là vật tổ của một vài dân tộc như người Murut ở bắc Bornéo, người Xê Đăng, S’tiêng, Giẻ Triêng, Chăm, Dao, Lô Lô… Thí dụ như người Cơ Tu, họ cho rằng chó chính là vật tổ của họ. Theo truyền thuyết của họ, thuở xưa có một trận đại hồng thủy tiêu diệt muôn loài, chỉ còn một cô gái và một con chó sống sót nhờ trốn vào một chiếc trống. Cô gái sống cùng với con chó như vợ chồng, sinh ra hai người con, một trai, một gái. Lớn lên, người con trai xuống đồng bằng, người con gái ở lại miền núi. Cuối cùng hai người lại gặp lại và lấy nhau, sinh ra một quả bầu. Từ quả bầu đó, người Cơ Tu, người Bru, Người Tà Ôi, người Việt ra đời.

Trong tôn giáo – Nhiều dân tộc, nhiều nơi có tục thờ chó. Ngày tôi còn ở Hội An, Quảng Nam, mỗi lần đi qua chùa Cầu, thấy có đôi chó tạc bằng gỗ ngồi chầu. Tượng chó này do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng tạc cho chùa Cầu, và chùa Cầu được xây dựng cũng vào năm Tuất.

Tượng chó bằng gỗ, Chùa Cầu Hội An

Vua Lê Thánh Tông cũng từng làm 2 bài thơ vịnh chó đá như sau (Hồng Đức quốc âm thi tập, thế kỷ 16).

Quyền trọng ơn trên trấn cõi ngoài
Cửa nghiêm chôm chổm một mình ngồi
Quản bao sương tuyết nào chi kể
Khéo nhử cao lương cũng chẳng nài
Mặc khách thị phi giương tráo mắt
Những lời trần tục gác ngoài tai
Một lòng thờ chúa nghìn cân nặng
Bền vững ai lay cũng chẳng dời.

Lần kể xuân thu biết mấy mươi
Cửa nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Đêm thanh nguyệt dãi màng trông nguyệt
Ngày vắng ruồi bâu biếng ngáp ruồi
Cắn kẻ tiểu nhân nào đoái miệng
Chào người quân tử chẳng phe đuôi
Phỏng trong sức có ngàn cân nặng
Dấu nhẫn ai lay cũng chẳng dời.

Mời đọc một trích đoạn hồi ký thú vị về chó đá của nhà văn Tô Hoài:

Chẳng biết từ bao giờ, ở chỗ đường cái vào, áp vách đầu nhà tôi, có con chó đá… Đây là con chó đá canh cổng, nhiều nhà có. Chó đá canh cổng trông quen mắt như cái bình vôi treo ở đám rễ si, rễ đa. Chỉ khác con chó đá nhà tôi bé tí teo, còn bên cổng đình, cổng chùa thì con chó đá lừng lững cao to bằng chó thật. Chân trước đứng, hai chân sau ngồi trên bệ như sắp nhổm lên sủa người lạ vào nhà. Ở chỗ thờ cúng, thế mà trẻ con nghịch ngợm thi nhau xoa đầu chó, rồi doạng chân ra cưỡi chó. Chúng nó chẳng biết con chó đá là thần canh cửa nơi miếu mạo và cổng ngõ nhà có của. Bắt chước nhau, lắm nhà méo mặt chạy ăn từng bữa cũng đẽo con chó đá đem về chôn bên cổng. Ý chừng ao ước rồi cũng có ngày biết mặt đồng tiền, nên rước sẵn chó đá về ngồi ấm chỗ canh cửa, đón tài, đón lộc… Mỗi chiều rằm, mùng một, bà tôi lấy chiếc bát đàn múc trong vại bên gốc cau ra bát nước mưa, một lá trầu không quệt sẵn vôi và miếng cau khô, một nén hương, đem đặt trước mõm chó đá. Bà chắp tay, khấn lâm râm rồi vái mấy vái. Cũng con chó đá bên cổng xây nhà ông Bá giữa xóm thì tuần rằm được hai nén hương, một miếng thịt lợn sống đặt giữa cái đĩa sứ, một cút rượu mở sẵn nút. Nhà có, nhà nghèo đều khói hương những ngày Tết nhất mời ông thần khuyển về “thượng hưởng”…
Từ những câu chuyện dân gian, những bài thơ của Vua Lê Thánh Tôn, đoạn hồi ký của nhà văn Nguyễn Tuân, đã chứng tỏ dân gian ta từ xưa đã thờ cúng chó đá.

Trong nghệ thuật – Hình tượng chó cũng được nghệ sĩ, nhà văn, họa sĩ, điêu khắc…sáng tác hoặc tạo hình tượng nghệ thuật, nhưng ở phương Đông thường không coi trọng hình tượng chó bằng phương Tây nên ít khi được coi là đối tượng chính trong tư duy sáng tác. Mà coi trọng những hình tượng khác như Rồng, Ngựa, Hổ…

Mời nghe nhạc phẩm “Who Let The Dog Out”

https://youtu.be/Qkuu0Lwb5EM

Trong Điện Ảnh – Cũng có các vai diễn của chó trong các phim của Hollywood. Phim hoạt hình nổi tiếng gần đây là “101 con chó đốm” của Walt Disney, phim đã để lại nhiều ấn tượng về những cá tính của các diễn viên do sự sáng tạo tinh tế của các họa sĩ.

Nói đến chó mà không bàn đến “Món Thịt Chó” hay còn gọi là “Thịt Cầy” là một thiếu sót lớn. Thật ra thịt chó đã từng có tại nhiều vùng như Đông Á, Đông Nam Á, Tây Phi, Châu Âu, Châu Đại Dương và cả Châu Mỹ hoặc rất được ưa thích tại các quốc gia như Tàu, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines…Hiện nay hầu hết các quốc gia phương Tây xem thịt chó là điều cấm, giết hại chó là một tội, có thể ở tù. Còn Việt Nam, dân gian ta có triết lý: “Sống trên đời, ăn miếng dồi chó – Chết xuống âm phủ, biết có hay không”. Dồi chỉ là một trong nhiều món chế biến từ chó. Lại còn có cả câu ca dao về người đàn bà tham ăn chả chó: “Ăn rồi cắp nón ra về – Thấy hàng chả chó lại lê trôn vào”. Theo các “chuyên gia” về ẩm thực, thịt chó xuất hiện khá muộn trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Dân phía Bắc ăn thịt chó phổ biến hơn là Dân ở phía Nam. Sau khi Hà Nội là nhượng địa cho thực dân Pháp vào năm 1888, người Pháp ra văn bản cấm giết, bán và ăn thịt chó, vì thế từ cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1945, các chợ trong nội thành không ai dám bày bán thịt chó. Tuy nhiên tình trạng mổ chó và ăn thịt chó trong nội đô vẫn diễn ra lén lút. Nhiều người thích thịt cầy vẫn trở về quê mua cầy tơ làm đủ các món vì các vùng quê quy định cấm thịt chó không được thực thi nghiêm khắc. Truyện ngắn “Trẻ Con Không Được Ăn Thịt Chó” in năm 1942 của nhà văn Nam Cao, có bối cảnh làng quê là minh chứng cho điều này.

Mời xem hài kịch “Trẻ Con Không Được Ăn Thịt Chó”

https://youtu.be/kPLmmZhdWPI

Sau năm 1954, những cửa hàng thịt chó lại xuất hiện. Cơn sốt thịt chó bùng lên vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, khi cả dãy nhà ngoài đê Nhật Tân mọc lên vài chục quán thịt chó mà một tờ báo địa phương thời đó đã gọi là “Khu Liên Hợp Thịt Chó”. Buổi trưa, buổi chiều, cán lớn cán bé, kẻ sang người hèn, cả nam thanh nữ tú rồng rắn đến đây, xe máy xếp hàng xếp lớp. Những ngày cuối tháng, đi muộn thì không quán nào còn chỗ trống. Thịt chó thường được các đầu bếp Việt Nam chế biến thành các món: thịt luộc (biến thể là hấp hoặc phay), dồi nướng, lòng hấp, thịt nướng (biến thể là quay, chả chìa), nhựa mận (biến thể là xào lăn), xáo măng (biến thể là lẩu). Các gia vị chính để chế biến món thịt chó là: sả, riềng, mè, mắm tôm, lá mơ trắng. Các đồ ăn và rau thơm đi kèm là bánh đa, húng chó, hành sống, mơ tam thể, củ sả, ớt trái,.. Tuy phổ biến khái niệm “thịt chó bảy món”, “cầy tơ bảy món”, nhưng đó chỉ là con số có tính giả định, thực tế số lượng các món thịt chó có thể nhiều ít tùy theo người đầu bếp. Tuy thịt chó thường đi liền với húng chó, riềng, sả… nhưng đặc biệt nhất vẫn là mắm tôm. Đồ uống thường sử dụng với thịt chó là rượu đế, bia. Nước Tàu hiện nay là một trong những nước tiêu thụ thịt chó nhiều nhất thế giới, Việt Nam cũng là quốc gia nằm trong danh sách những nước đứng hàng đầu tiêu thụ thịt chó.

Dưới sự vận động tẩy chay, chống đối của nhiều tổ chức bảo vệ động vật nuôi, hiện nay nhiều quốc gia, nhiều vùng đang giảm dần tiêu thụ chó. Việt Nam ta cũng vậy, số người không dùng món thịt chó ngày càng nhiều lên. Bằng chứng là nhiều nơi, một thời sống bằng nghề buôn chó, giết thịt chó, nay đã không thể sống với nghề này được nữa. Còn “Phố Thịt Chó” nổi tiếng Nhật Tân ở Hà Nội, trước đây có hơn 50 quán thịt chó, nay bơ vơ lèo tèo, còn sót lại một vài quán.

Tôi trước đây cũng rất yêu chó, nói đúng hơn là yêu thịt chó, từ ngày qua Mỹ, có thèm cũng chẳng có để ăn, vả lại tôi cũng có “bị” ảnh hưởng văn hóa Tây Phương nên bây giờ có ai mời “dồi chó” đi nữa, tôi cũng từ chối.

Trong quan niệm – Cũng như con người, có người tốt có người xấu. Có chó rất mực trung thành và rất thông minh nhưng có chó bị coi thường, bị xem như vật bẩn thỉu, ngu dốt và đáng khinh, vì vậy, người ta khi thóa mạ nhau thường nhắc đến chó như: đồ chó, đồ chó má, đồ chó đẻ, đồ chó săn, đồ chó chết, đồ chó cái, đồ chó ghẻ, ngu như chó, cẩu nô, tuồng chó lợn, đồ chó vô chủ, đám chó hoang.v.v. Quả thật, có rất nhiều thí dụ như lúc bình thường, bọn chó đùa giỡn, thân thiện như thương yêu nhau thắm thiết, nhưng khi có miếng ngon, cục xương (miếng đỉnh chung), chúng giành giật, cắn xé nhau sống chết, đó là tính phản phúc, tráo trở, lật lọng. Lúc có chuyện gì, chỉ cần một con chó sủa, thì cả bầy chó đều sủa hùa theo, đó là bọn chó hùa. Khi chó đã ghét một ai, thì ghét suốt đời, bất cứ khi nào gặp mặt, nó cũng sủa tới khi nào khuất mặt mới thôi, đó là nhỏ nhặt, thù dai, cố chấp, thành kiến… Đi ra ngoài, có chủ bên cạnh, chó tỏ vẻ dữ dằn hung tợn còn như không có chủ thì cụp đuôi lại, tỏ vẻ sợ sệt, đó là tính dựa hơi, cậy thế.

Người Việt lại còn có quan niệm, chó là con vật có thể mang đến điều may mắn, thuận lợi và niềm vui (mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang).

Mời xem những con Chó có nghĩa, biết khóc, biết mừng khi gặp lại Chủ sau nhiều năm xa cách

Lịch sử nhân loại không chỉ lưu danh các vĩ nhân, mà còn cả các “vĩ khuyển”. Xin giới thiệu vài chú chó nổi tiếng trong lịch sử.

– Chú chó của Pavlov – : nhờ chú chó này mà Pavlov tiến hành nhiều thí nghiệm, từ đó xây dựng nên định luật cơ bản về “hiện tượng phản xạ có điều kiện của động vật”, một phát kiến vĩ đại của lịch sử khoa học thế giới (Thí nghiệm này chúng tôi có học trong môn Vạn Vật lớp Đệ Nhất hồi học Trung Học). Tiếc rằng tên riêng của chú chó này không được ghi nhận nên người ta phải gọi là “chú chó của Pavlov”
– Laika – chú chó “phi hành khuyển” đầu tiên của nhân loại. Chó Laika là sinh vật được đưa lên không gian đầu tiên để thí nghiệm sức chịu đựng của cơ thể sống trong điều kiện không trọng lực. Laika trở thành đề tài của rất nhiều tiểu thuyết, phim truyện, bài hát…
– Hachico – biểu tượng về lòng trung thành của loài chó. Hachico là giống chó bản địa Nhật Bản, nó vẫn có mặt đều đặn ở nhà ga vào đúng giờ đón người chủ – người đã mất – sau 10 năm chờ đợi trong vô vọng, nó gục chết ngay chính nơi mà nó vẫn đứng đợi chủ nhân của nó. Người ta đã quyên góp tiền để nhà điêu khắc Ando Teru làm một bức tượng Hachiko bằng đồng, đặt ngay trong sân ga, nơi chú chó đã đứng đợi chủ nhân trong gần 10 năm. Bức tượng bị lấy đi để làm vũ khí trong thời chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng được con trai nhà điêu khắc Ando Teru làm lại vào năm 1948 và tồn tại ở ga Shibuya cho đến tận hôm nay. Bức tượng này giờ đây được biết đến như một điểm hẹn ở Shibuya, nơi người ta đến đó và ngồi đợi bạn của mình…

Kể bạn nghe một kinh nghiệm của tôi. Qua Mỹ được mấy năm, nhờ trời thương, đời sống vật chất gia đình khấm khá, vì “trưởng giả học làm sang” và cũng vì chiều thằng con 8 tuổi. Tôi mua một con cún, thuộc giống Beagle, nom dễ thương lắm, mua rồi tôi mới nếm nỗi khổ “nuôi chó”. Thằng con tôi chỉ thích chơi với chó chứ nó không “giải quyết” bất cứ việc gì liên quan tới chó, nghĩa là hai vợ chồng tôi khổ với con chó này còn hơn nuôi một đứa bé, từ lau nước tiểu, hốt phân đến đưa đi khám bệnh, chích ngừa, rồi tốn vài trăm để nhờ Bác sĩ “thiến”…Đi vacation, phải tìm người “giữ” dùm. Có lần bị Cảnh Sát cảnh cáo lần thứ nhất với lời răn đe sẽ phạt 500, tội abuse xúc vật vì xích chó trước nhà, trong khi cả nhà đi vắng. Khi được vài tuổi, nó cắn phá đủ thứ trong nhà, có lần nó cắn nát bộ sofa mới. Tôi giận lắm, đánh nó thật đau, thế mà nó vẫn tật nào chứng nấy. Sau tra cứu sách vở, tôi mới biết, giống chó Beagle là giống, có chỉ số IQ (thông minh) thấp nhất trong các loài chó. Một lần mở cửa, nó tuôn chạy ra ngoài, tìm đâu cũng chẳng thấy. Tôi định bụng, như thế càng tốt, ai dè, buổi tối, ông Mỹ hàng xóm đến báo: Con chó của mày bị “đội bảo vệ súc vật giữ…” rồi hướng dẫn chúng tôi cách đến shelter để nhận lại. Thấy thằng con buồn, rồi lại vì chiều nó, hai cha con đến shetler. Đến nơi, đi vào dãy phòng nhốt chó, lần đầu tiên, tôi mới thấy nó khôn kinh khủng, nó nhận ra thằng con tôi từ xa, nó lao về hướng thằng con tôi và sủa (cầu cứu) ing ỏi. Cầm lòng không đậu, tôi lại phải chuộc chó ra, đóng tiền chích ngừa và linh tinh cũng khoảng gần 500 đô. Vợ chồng tôi lại tiếp tục hầu chó cho thằng con, thật là khổ hơn chó. Một hôm, chị tôi đến chơi, bả có vẻ thích chó, tôi làm bộ tử tế, tặng chó cho bả, giao luôn cả chuồng, thức ăn và tất cả đồ linh tinh dùng cho Chó. Sau đó mấy hôm, bả gọi phone báo rằng nó xổng chuồng, chạy mất rồi. Tôi vờ đi, chẳng hỏi gì cả, lâu ngày sau đó cũng chẳng thấy chị tôi nhắc gì về con chó. Đúng là “chó chết hết chuyện” đúng ra là “chó mất hết chuyện”.

Hiện nay có những con chó, từng phải sống ở một thời, một nơi, người không có đủ cơm mà ăn thì lấy đâu ra phân cho nó, nó còn bị kỳ thị, bị ngược đãi lại còn xét đến lý lịch nòi giống của nó để phân biệt đối xử. Dù trung thành, dù yêu nơi chôn nhau cắt rún đến mấy nó cũng liều mình đào thoát đến trời Tây, nơi nó được hưởng nhiều hơn những thứ mà nó thường chỉ có trong mơ. Thế mà no cơm ấm cật rồi nó lại tí ta tí tửng bò về chốn cũ. Những con chó cùng cảnh ngộ trước đây nhưng kém may mắn nên không đào thoát được, thắc mắc hỏi nó : “Mày đã vượt biển đến nơi được ăn sung ở sướng, được tự do, đi đâu thì đi, muốn sủa ai thì sủa, sủa cái gì cũng được, lúc nào cũng được, lại được bình đẳng, không bị kỳ thị, tại sao mày lại mò về đây?.

Chó bên trời Tây nói: “Tụi tao ở bên ấy, tuy có sướng thật, nhưng món ăn khoái khẩu nhất của mình là phân, thế mà bên ấy chẳng làm sao có được, nhớ quá, thèm quá đành bò về cố quận để liếm phân cho đỡ nhớ”.

Mới đây tôi có nhận được bài viết: “ Năm Mới, Tản Mạn Về Những Thằng Còn Thua Con Chó”, của Nhà Văn Lão Móc, nghĩ thấm thía lắm, xin trích đoạn hầu quý bạn”

…Ở trong nước, vì bọn “còn thua con chó” là bọn lãnh đạo Trung Ương Đảng CSVN mà “người dân Việt Nam hôm nay khổ hơn con chó”.
Trong khi đó ở hải ngoại lại có những kẻ tự xưng mình là trí thức, là nhà văn mà lại đi lòn cúi, bưng bô, liếm đít bọn tay sai của bọn “còn thua con chó” là bọn lãnh đạo VC.
Có thằng tự xưng là trí thức mà lại công khai ca tụng “ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đánh Pháp, đuổi Mỹ thống nhất đất nước”.
Có thằng trí thức vô liêm sỉ tới độ dám mạt sát lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là lá cờ mà những chiến sĩ QLVNCH đã suốt 20 năm hy sinh xương máu để bảo vệ tự do, dân chủ cho miền Nam, bảo vệ cho gia đình nó, cha mẹ nó, vợ con nó bằng những lời nói vô ơn và ác độc còn hơn cả VC:

“Lá cờ vàng chết từ 75 rồi thế mà đến bây giờ người ta vẫn lấy lá cờ ấy ra để tranh cãi làm ngăn cách lòng người. Đã thế, còn lấy cờ phủ lên những đống thịt thối…”

Thật không còn lời phát biểu nào khốn nạn hơn những lời phát biểu này.

Đây mới đúng là NHỮNG KẺ CÒN THUA CÁI BỌN “CÒN THUA CON CHÓ!”
Tản mạn về chó mà không nói chút chút về vụ “Chó Lẹo” thì cũng hơi thiếu xót. Nói nôm na là vấn đề “giao phối” của Chó.
Hoạt động nhằm duy trì nòi giống của chó khá phức tạp. Một trong sự phức tạp ấy là hiện tượng “dính nhau“ chỉ có ở loài caniden, tức các loài họ hàng nhà sói và chó. Chó cái “rượng đực” có mùa. Thông thường, chuyện này xảy ra 2 lần trong năm, lần đầu vào mùa xuân và lần kế vào mùa thu. Thời gian “rượng đực” kéo dài từ 3 ngày đến 21 ngày. Khác loài người, thú vật chỉ giao hợp có mùa mà thôi . Chó cái chỉ cho chó đực nhảy lúc nó “rượng”. Ngược lại, chó đực lúc nào cũng sẵn sàng. Trong thời gian này, hễ chó cái đánh hơi mùi chó đực, dù từ xa, nó bất chấp tất cả khó khăn, những chướng ngại, dẫu phải phóng qua tường, dẫu phải chui hàng rào để đến với chàng. Âm hộ chó cái lúc nầy tiết ra dịch nhầy có mùi kích thích tình dục cực mạnh, chó đực ngửi thấy là xáp vô liền không cần mời mọc. Dương vật chó đực có hai bộ phận rất đặc
biệt. Xương dương vật (os penis) chiếm một đoạn theo chiều dài của dương vật, xương giúp cho dương vật được thẳng cứng lúc nhảy đực. Bộ phận thứ hai là bulbus glandis, hình dạng tròn như củ hành và nằm ở phần gốc của dương vật, sát bụng. Chó đực nhảy lên chó cái, nhấp lối 15-20 cái, thì máu dồn tối đa vào củ hành làm nó phình ra rất to, cộng thêm sự co thắt của âm hộ, nên dương vật bị kẹt cứng lại, không thể lấy dương vật ra được. Để thoải mái, chó đực choàng một chân trước qua lưng chó cái và quay ngược ra sau. Thế là hai con “mắc lẹo”, con thì kéo tới con thì kéo lui. Lúc này, xương dương vật rất dễ gãy. Sau khi xuất tinh, dương vật từ từ xìu xuống , hai con vật sút ra, mỗi con chạy mỗi hướng, con đực tìm một nơi yên tĩnh để nghỉ mệt. Thời gian mắc lẹo kéo dài trung bình khoảng 25 phút. Nếu thụ tinh, chó cái sẽ mang thai khoảng 63 ngày.

Sau năm 1975, tôi dạy học, một anh đồng nghiệp chung trường của tôi, được khoác cái mác là “giáo viên kháng chiến”, những lúc trà dư tửu hậu, có kể rằng, trước 75 anh là sinh viên hoạt động cho CS, khi bị lộ, anh vào bưng, ở trong những vùng “sôi đậu” dạy chữ cho dân và cho cán bộ, ở lâu quá lấy vợ là người địa phương. Thỉnh thoảng có mò về nhà ngủ với vợ, chứ không ngủ thường xuyên vì sợ “biệt kích” của ta đột kích bất ngờ. Khi nào có dấu hiệu biệt kích, thì người này ám hiệu cho người khác để cùng nhau chạy trốn vào rừng. Anh kể, dở khóc dở cười là lúc đang làm tình với vợ mà nhận ám hiệu “có biệt kích” là ôm quần tuôn chạy, lúc đó hai chân cứ “túm” vào nhau, chạy không nổi…
Ở Mỹ, chắc khó có dịp thấy chó mắc lẹo. Ở Việt Nam, mà phải ở thôn quê thì mới dễ có dịp thấy chuyện đó. Hồi nhỏ tôi đã nhiều lần gặp cảnh này, lũ trẻ chúng tôi mỗi lần thấy chó mắc lẹo là lấy cát ném vào chỗ ấy, hoặc ném đá hoặc lấy cây đánh ác lắm, có lần bọn trẻ còn lấy sào đẩy chúng rơi xuống ao, thế mà chúng cũng không rời nhau. Bây giờ nhớ câu chuyện anh đồng nghiệp kể, rồi nghĩ lại chuyện nghịch ngợm lúc bé, hối hận vô cùng. Cứ thử tưởng tượng mình mà gặp cảnh như thế thì sao.

Tôi cũng có nghe đồn thổi về chuyện, hai người làm tình bị dính chặt với nhau, sau khi tìm hiểu và tra cứu, tôi không tìm thấy một bằng chứng khoa học nào chứng minh là điều này có thể xảy ra.

Con người là một động vật có sinh hoạt tình dục khác với hầu hết các loài thú. Có thể “làm tình” bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, bất cứ mùa nào và nghe nói có đến hàng trăm kiểu “làm tình” khác nhau, các kiểu này vẫn còn đang ngẫu hứng biến thế với những phương tiện chung quanh. Thế mà trong số các kiểu “làm tình” đó, lại có kiểu, tiếng Mỹ gọi là “sex doggy style”, nôm na là “kiểu chó”. Người ta bắt chước chó? hay là vì “làm” giống chó nên mới có cái tên như vậy? Chỉ biết, “làm tình” kiểu này, muốn người tình dễ hiểu ý mình nhất thì phải nói cho nàng biết, mà nói nôm na, huỵch tẹc ra thì cả hai cùng mắc cở vì có vẻ như là “thô bỉ”, “bẩn thỉu”, “tục tĩu”, “hạ cấp”…thật là oan cho chó.
Trong tục ngữ dân gian có câu: “gái phải hơi trai như thài lài gặp cứt chó”. Tôi không biết điều này có đúng không và với mức độ nào nhưng chỉ vì duy trì nòi giống, tạo hóa cho chó cái “đòi hỏi sinh lý” có hai mùa trong một năm, mỗi lần như thế khoảng hơn chục ngày, thế mà nỡ nói nặng lời là “rượng đực”…thật là oan cho chó.

Kể bạn nghe vài chuyện có liên quan đến chó
Phố Nhật Tân ở Hà Nội có quán “thịt chó” nổi tiếng, khách hàng toàn là thứ trưởng, bộ trưởng. Vì đông khách nên có một anh đứng ở đằng trước la to báo hiệu cho bên trong biết để sắp xếp dọn bàn. Một xe hơi đỗ trước cửa, bốn vị bước xuống, vẻ ngoài chắc là cán cộm. Anh tiếp tân la to, vọng vào bên trong: “bốn chó mới vào…”.

Chuyện xảy ra dưới thời Tự Đức, một ông vua nổi tiếng thích thơ văn. Văn thần Phan Văn Nhã được lệnh vua chấp bút bài văn – Ngọc Diệp – liệt kê và ca ngợi các bậc tài hoa, cành vàng, lá ngọc trong triều. Thảo xong, Phan Văn Nhã cho tổ chức buổi tiệc khoản đãi “trình làng” cốt để khoe tài. Bài văn đến tay quan Thượng thư Võ Phạm Khải. Quan thượng thư vừa liếc xem qua đã phán một câu nặng nề: “Văn thế này thì chó cũng làm được”. Tác giả tức khí, hai bên lời qua tiếng lại, chẳng ai chịu ai, hết võ mồm rồi đến chân tay. Sự việc đến tai vua Tự Đức. Vua cho mời quan Hành tẩu bộ Lễ, là Cao Bá Quát, “chứng nhân bất đắc dĩ” vụ việc, trình bày lại cho nhà vua biết.
Cao Bá Quát làm bản báo cáo bằng thơ, ngắn gọn như sau:
“Tiền, Quát bất tri/ Hậu, Quát bất tri/ Trung gian Quát chí/ Đản kiến:/ Thượng bàn hô cẩu/ Hạ bàn hô cẩu!/ Thượng hạ giai cẩu!/ Lưỡng tương đấu ẩu/ Thần gián bất đắc/ Thần kiến thế nguy/ Thần hoảng thần tẩu!”
(Trước, Quát không biết/ Sau, Quát chẳng hay/ Nửa chừng Quát đến/ Thấy như thế này:/ Bàn trên chửi: chó!/ Bàn dưới mắng: chó!/ Trên dưới đều chó/ Rồi choảng nhau luôn/ Thần can chẳng được/ Thần thấy thế nguy/ Thần sợ, thần chuồn!)

Ông Ích Khiêm, làm quan võ dưới thời Vua Tự Đức, gặp buổi đất nước suy vong, rơi vào tay giặc Pháp. Ông làm bữa tiệc có ý để chửi mắng bọn quan văn là một lũ chó, toàn ăn hại.
Một bữa, ông thết tiệc, mời các quan đại thần văn, võ. Bàn trên cỗ dưới, các món toàn là thịt chó cả. Có người không ăn thịt chó, hỏi món khác, Ông Ích Khiêm chỉ cười, đáp lại: “Xin lỗi, trên chó dưới chó, tất cả đều là chó, không có gì khác nữa!”

Một chuyện đáng suy gẫm:
Một gia đình nông dân có nuôi một con chó và một con mèo. Con chó rất siêng năng. Mỗi ngày, khi chủ nhân đi vắng, chú ta dỏng hai tai lên, mắt sáng rực, đi tuần tra xung quanh căn nhà. Chỉ cần một chút động tĩnh là chú ta sủa inh ỏi lên và truy tìm dấu vết của kẻ xâm phạm. Chú ta rất chuyên tâm làm công việc bảo vệ gia đình nhà chủ.
Khi có người ở nhà, chú ta thả lỏng tinh thần, có khi còn ngủ vùi. Vì vậy, trong mắt những người trong nhà chủ thì chú ta là chú chó lười biếng, chẳng làm tròn nhiệm vụ. Thế nên họ chẳng cho chú ăn no, càng hiếm khi thưởng cho chú ta một miếng ăn ngon.
Con mèo thì lười biếng. Những lúc chủ vắng nhà, nó chui vào góc ngủ miên man. Mấy con chuột kéo nhau vào lục phá, nó cũng chẳng buồn nhòm đến. Ngủ đã mắt, nó dậy đi tản bộ, vận động cho giãn gân giãn cốt. Đến khi chủ nhà về thì nó ở trạng thái rất sung sức, kêu meo meo, chạy quấn quanh chủ. Nó còn liếm liếm chân, đùa giỡn với chủ nhân. Vì thế, trong mắt của chủ nhà, nó là một con mèo vô cùng siêng năng và đương nhiên, có gì ngon lành, mèo ta đều được hưởng.

Do con mèo lười biếng nên chuột kéo đến nhà ngày một đông. Có hôm, bọn chuột cắn hư một món đồ quý trong nhà. Chủ nhà giận lắm, mới tập hợp mọi người lại: -Các ngươi xem, con mèo nhà ta siêng năng như thế mà bọn chuột lại lộng lành đến mức này. Tôi cho rằng, nguyên nhân quan trọng nhất chính là con chó lười. Suốt ngày nó chỉ biết ngủ, không biết giúp con mèo bắt chuột. Giờ tôi quyết định đuổi con chó đi, chỉ nuôi mỗi con mèo này thôi. Ai có ý kiến gì không?
Mọi người ào ào phụ họa: -Con chó này lười thật đấy, suốt ngày chỉ biết ngủ! Còn con mèo siêng năng biết mấy! Bắt được bao nhiêu là chuột, ăn đến nỗi béo ú, đi không nổi nữa kìa! Đúng là nên đuổi con chó đi, chỉ nuôi con mèo thôi.
Thế là con chó bị đuổi ra khỏi nhà. Nó bước ra khỏi cửa còn quay đầu nhìn lại mãi, không hiểu nguyên nhân tại sao mình lại bị đuổi.
Từ câu chuyện này ta rút ra được bài học ý nghĩa sau đây:
Trong thực tế người nói nhiều chưa hẳn đã làm được nhiều. Thông thường, giỏi nói thì không giỏi làm, giỏi làm thì lại không khéo nói. Nói nhiều, không chắc làm được bao nhiêu, còn nói ít chưa chắc đã làm ít. Làm nhiều chưa hẳn được báo đáp nhiều, làm ít chưa hẳn là thu hoạch ít. Nguyên do là vì chúng ta chỉ nhìn sự việc ở bề mặt, ít khi đào sâu xem xét thực trạng, quá chú trọng vào cảm giác cá nhân nên đánh giá sự việc thiếu công bằng, thường thích kẻ vuốt ve mình, chứ ít khi thích người đối chọi với mình.

Mời đọc một câu chuyện thâm thúy:

Có quán thịt chó rất đông khách. Chủ muốn trưng một bảng hiệu, anh nghĩ tên anh là Đảng, dựng bảng hiệu “Chó Đảng” là dễ nhớ nhất.
Một hôm công an đến hạch sách:
– Tại sao anh đặt cái tên bảng hiệu như vậy ? Anh có ý gì?
Anh bán thịt chó trả lời : -Thưa, tôi tên là Đảng, làm nghề thịt chó nên tôi nghĩ, đặt tên tiệm là “Chó Đảng” cho dễ nhớ.
Anh Công an nói : -Yêu cầu anh đổi ngay lại tên cái bảng hiệu này.
Anh thịt chó nói :-Thưa anh em xin đổi từ “Chó Đảng” thành “Đảng Chó” còn nếu đổi tên khác thì không còn đúng ý của em nữa.
Viên công an hỏi tiếp: -Thế ở đây anh kinh doanh những loại chó gì ?
Anh thịt chó nói : -Thưa anh ở đây nhà em chỉ kinh doanh hai loại chó thôi, chó Trung quốc và chó VN ạ.
Anh công an lại hỏi : -Làm thế nào để phân biệt được đâu là chó VN, đâu là chó TQ ?
Anh thịt chó trả lời : -Dạ, chó TQ thì nó toàn chõ mõm ra ngoài sủa bậy, nó chuyên sủa và cắn chó VN !!! Còn chó VN thì nó chỉ biết cắn nhau trong đàn, con nọ cắn con kia, trộm cướp vào nhà thì nó im re chẳng thấy sủa hay cắn gì cả, chỉ giỏi tranh giành nhau ăn, nhưng đặc điểm chung của cả 2 loài là hay ăn phân người anh ạ.
Anh công an có vẻ gay gắt: -Bây giờ chúng tôi mời anh về phường để làm việc thêm về nội dung cái bảng hiệu này.
Anh bán thịt chó kêu oan: – Oan cho em lắm ạ, cái biển thì em giải thích rồi ạ, còn 2 loài chó này chúng chẳng trung thành đâu, chủ chúng nuôi mà chúng toàn quay lại cắn chủ, hơn nữa, loài này hiện nay sinh sôi nẩy nở đông lắm, ở VN mình hình như nghe đâu cũng lên tới 4 triệu con rồi. Phải thịt bớt đi anh ạ.- !!!

Hình ảnh chó xuất hiện khá nhiều trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam. Đầu Xuân mời bạn đọc rồi suy gẫm.

• Chó ngáp phải ruồi: Chỉ sự may mắn ngẫu nhiên, chứ không phải do tài mà có được
• Chó chui gầm chạn: Chỉ về hoàn cảnh ở rể
• Chó cắn áo rách: Chỉ nghèo khó, cùng cực bị kẻ xấu làm hại, bóc lột thêm – kẻ bất lương làm hại người khốn khó
• Lên voi xuống chó
• Chó ăn đá, gà ăn sỏi: Chỉ nơi đất đai cằn cỗi, hoang vu
• Lạc nhà nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu
• Đánh chó phải ngó mặt chủ
• Chó nào chủ nấy
• Chó ỷ thế nhà, gà ỷ thế vườn: Muốn nói ai đó ỷ vào thế có lợi của mình mà hung hăng bắt nạt người
• Treo đầu dê, bán thịt chó
• Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang
• Chó húp cháo nóng
• Giỡn chó chó liếm mặt: Chỉ sự khình nhờn do quen biết
• Chó treo, mèo đậy: Nhắc đến việc có của phải biết cách giữ gìn
• Như chó với mèo: Chỉ sự xung khắc
• Chó chạy cùng sào
• Chó quen nhà, gà quen chuồng
• Chó khôn chớ cắn càn câu đối với câu: Lợn cấn ăn cám tốn
• Chó dữ mất bạn hiền
• Chó càn cắn dậu: khi nói đến kẻ hung hăng, gây gổ bừa bãi
• Chó cùng dứt đau
• Chó dại có mùa, người dại quanh năm
• Chó tháng 3, gà tháng 7
• Ráng mở gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa
• Chó già giữ xương
• Chó liền da, gà liền xương
• Chó giữ nhà, mèo bắt chuột hay Chó giữ nhà, gà gáy trống canh: Chỉ sự phân công công việc
• Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi
• Lợn rọ, chó thui
• Giả cầy người ăn như chó
• Trâu không có bắt chó kéo cày
• Chó khôn tha cứt ra bãi/chó dại tha cứt về nhà
• Chó ba năm mới nằm, gà ba lần vỗ cánh mới gáy
• Chó giống cha, gà giống mẹ: Một nhận xét về quy luật di truyền ở súc vật
• Mèo đàng, chó điếm: Chỉ người bất lương, lang thang vô dụng
• Không có chó bắt mèo ăn cứt
• Chó có chê cứt thì người mới chê tiền
• Chó chê cứt nát: Chê những kẻ tỏ ra khó tính hay đòi hỏi.
• Nói dai như chó nhai giẻ rách
• Hàm chó vó ngựa
• Chó chê mèo lắm lông: Phê phán kẻ khác không nhìn thấy lỗi mình mà chỉ nhìn thấy lỗi của người khác.
• Con không chê cha mẹ khó/Chó không chê chủ nghèo
• Khuyển mã chí tình: Tức là chó và ngựa là hai con gắn bó với người nhất
• Ra sức khuyển mã
• Sống trên đời ăn miếng dồi chó – Chết xuống âm phủ biết có hay không
• Cẩu thả
• Chó sủa là chó không cắn
• Chó khôn chẳng sủa chỗ không
• Lắt nhắt như chó đái
• Chó chạy đường cùng
• Chó đá vẫy đuôi: chỉ về chuyện không có thực
• Đen như chó mực
• Chó nhà nào sủa nhà ấy
• Mang chết chó cũng lè lưỡi: làm hại được người khác thì mình cũng thiệt thòi
• Chỉ chó mắng mèo: Ngầm ý nhắc nhở
• Chó già, gà non
• Tuồng chó lợn hay phường chó lợn: Chỉ những hạng người đáng khinh

(Bài viết có xử dụng một số tài liệu trên Internet)

Nhất Hùng

Bạn cũng có thể thích...