Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân

Ai Tư Vãn
Bản Tình Ca Bất Hủ

Trong nền văn học Việt Nam vào thế kỷ 18 Đoạn trường tân thanh của cụ Nguyễn Du (1765-1820) được một số học giả tán thưởng là tác phẩm độc nhất vô nhị (Nam Phong 8-12-1924). Đoạn trường tân thanh đã len lỏi vào các sinh hoạt văn hóa từ ngâm Kiều qua vịnh Kiều, đố Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều, tập Kiều, v.v.  Riêng người viết vốn là kẻ hậu sinh tuy vẫn thích ngâm nga vài câu như “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tàì” hay “Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng” từ Đoạn trường tân thanh nhưng lại bị cuốn hút đặc biệt bởi tác phẩm cùng thời là Tiên Thánh Thăng Hà Hoàng Hậu Ai Vãn hay Ai tư vãn bằng chữ Nôm của Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân.

Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân sáng tác Ai tư vãn thương vấn Hoàng Đế Quang Trung khi ông băng hà quá sớm.  Ai tư vãn trong nhãn quan của người viết thật sự là một bài vãn ca tình yêu tuyệt vời trình bày nỗi niềm xúc động phức tạp tương tự bi kịch Hy Lạp (Greek tragedy).  Chính nhờ thông điệp tình yêu sâu đậm cho nên qua Ai tư vãn lớp vãn bối nhận ra được tình cảm mặn nồng sâu sắc giữa Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân và Hoàng Đế Quang Trung.

“Kiếp này chưa trọn chữ duyên,
Ước xin kiếp khác vẹn tuyền lửa hương.”


Tài Sắc Song Toàn
Khuynh Quốc Đổ Thành

Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân (1770-1799) nguyên là ái nữ của Hoàng Thượng Lê Hiển Tông và Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền.  Lê Ngọc Hân là một công chúa nhan sắc với tư chất thông minh được Hoàng Thượng thương yêu.

“Nguyên trong số những người con gái đẻ sau của Hoàng Thượng, còn có đến năm, sáu nàng công chúa chưa chồng. Nhưng chỉ riêng có một nàng tên chữ gọi Ngọc Hân, là người có sắc đẹp và nết na hơn cả. Hoàng Thượng rất yêu quí Ngọc Hân, thường ngày vẫn nói: ‘Con bé này ngày sau nên gả làm vương phi, không nên gả cho hạng phò mã tầm thường!’”  (Chính biên, Hoàng Lê nhất thống chí).

Khi Quang Trung Nguyễn Huệ (Bình) dẫn quân ra Bắc diệt Trịnh phò Lê, theo lời tâu của Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Hiển Tông đã gã công chúa Lê Ngọc Hân, lúc đó mới 16 tuổi, cho Bắc Bình Vương.  Một đám cưới linh đình được tổ chức và đã được diễn tả khá chi tiết trong phần chính biên của Ngô Thì Chí trong Hoàng Lê nhất thống chí như sau:

“(Quang Trung Nguyễn Huệ) Bình chọn ngày mồng mười tháng ấy, sắp sẵn hai trăm lạng vàng, hai ngàn lạng bạc, hai chục tấm đoạn màu, bày biện gươm giáo cờ quạt; rồi sai viên thị lang bộ Hình đem các thứ lễ vật đó cùng một tờ tâu vào điện Vạn Thọ.

Hoàng Thượng cho hoàng tử là Sùng nhượng công ra đó nhận lễ vật, làm lễ cáo ở nhà Thái Miếu, định ngày hôm sau thì đưa dâu. Rồi Hoàng Thượng lại truyền cho các hoàng thân, hoàng phi, công chúa và các quan văn võ, ai nấy đều phải sửa soạn ngựa xe, sớm hôm đó đợi ở cửa điện, để đưa công chúa về phủ của Bình.

Sáng sớm hôm sau, Bình lại sai quan đem một tờ tâu vào triều, xin cho làm lễ nghênh hôn. Một mặt, Bình khiến quân lính đứng sắp hàng ở hai bên đường, từ cửa điện đến cửa phủ. Trai gái trong kinh nghe tin, rủ nhau đi xem đông như ngày hội. Ai cũng cho là việc hiếm có xưa nay.

Khi xe của công chúa tới cửa phủ, Bình ngồi kiệu rồng vàng ra đón, hết thảy mọi thứ lễ nghi đều theo đúng như lệ thường ở các nhà. Sau khi công chúa vào cung, Bình sai đặt tiệc ở bên ngoài để thết các vị hoàng thân, hoàng phi, công chúa và các quan văn võ đi đưa dâu. Trong tiệc, mọi người đều theo thứ bậc mà ngồi.

Tiệc tan, Bình sắp riêng hai trăm lạng bạc, sai quan ngỏ lời kính tặng các vị nhà gái, và đưa tiễn ra tận cửa phủ.

Các quan ra về, lại họp ở nhà công đường bộ Lễ, ai nấy đều khen nhà vua kén được rể tốt, và bảo nhau: ‘Thế là từ nay nước An-nam ta đã có một nước dâu gia’.”

Theo Hoàng Lê nhất thống chí, “Công chúa lúc mới về còn có vẻ bẽn lẽn e thẹn.”  Tuy nhiên mặc dầu chỉ 16 tuổi Công chúa Ngọc Hân đã sớm bộc lộ nét anh thư sâu sắc chững chạc với tư chất thông minh hiếm có qua các cuộc đối thoại thật khôn ngoan với Quang Trung Nguyễn Huệ.

“– Con trai con gái nhà vua, đã có mấy người được vẻ vang như nàng?

Công chúa đáp:
– Nhà vua ít lộc, các con trai con gái ai cũng thanh bạch nghèo khó. Chỉ riêng thiếp có duyên, lấy được lệnh công, ví như hạt mưa, bụi ngọc bay ở giữa trời được sa vào chốn lâu đài như thế này, là sự may mắn của thiếp mà thôi!

– Tiên đế có hơn ba mươi người con trai, ngày nay báo hiếu lại chỉ ở một người con gái, nào có ai giúp đỡ cho được mảy may? Người xưa thường bảo “Con gái làm rạng rỡ cho nhà cửa,” quả cũng đúng thật!

Công chúa cảm tạ và nói:
– Nhờ công đức của thượng công, thiếp được báo hiếu với hoàng khảo, mở mặt với anh chị em. Tục ngữ vẫn nói “Trai không ăn mày vợ, gái phải ăn mày chồng,” chính là như thế đó!”  (Chính biên, Hoàng Lê nhất thống chí).

Lệ anh hùng ải mỹ nhân.  Tài sắc song toàn của Công chúa Ngọc Hân đã nhanh chóng chinh phục được tình yêu sâu đậm của bậc anh hùng cái thế.  Từ đó Quang Trung Nguyễn Huệ một mực cung kính đối với vua Lê Hiển Tông.  Khi vua Lê Hiển Tông băng hà thì Nguyễn Huệ đóng trọn vai trò con rễ trung hiếu và đã tổ chức tang lễ thật trang trọng.

“Đêm đó, Hoàng Thượng tinh thần tỉnh táo, bèn cho đòi hoàng tự tôn vào, dặn dò các công việc lớn lao của nhà nước, lại cho đòi công chúa Ngọc Hân vào để dạy bảo về đạo làm vợ. Trối trăng với con gái xong đâu vào đấy, đúng giờ mão ngày 17, Hoàng Thượng băng ở điện chính tẩm. Bấy giờ Hoàng Thượng thọ 70 tuổi, ở ngôi vua được 47 năm.

(Quang Trung Nguyễn Huệ) Bình mặc đồ tang, đứng ở trên điện tế, coi xét lễ nghi hết sức chu đáo. Lúc đang tế, có viên tả phiên lại hơi có vẻ cười, Bình sai lôi ngay ra chém. Đại khái đối với việc tang lễ, Bình hết sức kính cẩn như vậy.

Còn Bình thì suốt ngày đêm sắm sửa cho lễ táng, các đồ tế lễ tuy đơn sơ, giản dị, nhưng lễ nghi thì đều đầy đủ không thiếu sót gì.

Đến ngày đưa đám, Bình tự cưỡi voi, đem ba ngàn quân, hộ tống tử cung đến bến đò, rồi chờ cho lễ rước tử cung xuống thuyền xong xuôi đâu đấy, mới quay trở lại.”  (Chính biên, Hoàng Lê nhất thống chí).

Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân tài sắc song toàn khuynh quốc đổ thành.  Có lẽ độc giả nghĩ tôi viết như vậy để ca tụng Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân với tài sắc rực rỡ nghiêng thành đổ nước, và đó là lời khen ngợi hơi quá đáng.  Thực ra đó không phải là lời khen mà là sự thật của lịch sử bởi vì Công chúa Lê Ngọc Hân tuy chỉ mới 16 tuổi mà đã có thể làm nghiêng ngã triều đình nhà Lê vào lúc đó với ý kiến cá nhân tinh anh.

Sau khi vua Lê Hiển Tông băng hà, triều đình bàn định đưa Hoàng Tự Tôn (Lê Duy Khiêm) lên ngôi vua (đổi tên là Duy Kỳ).  Quang Trung Nguyễn Huệ lúc đó là Nguyên soái phù chính dực vận Uy Quốc Công nắm trọn quyền hành ở Bắc hà đã lên tiếng phản đối vì “không thích Hoàng Tự Tôn” khiến “cả triều bàn bạc phân vân.”  Triều đại Lê Duy Kỳ mới lập mà có thể sụp đổ không phải vì ý kiến của Quang Trung Nguyễn Huệ, mà làý kiến của Công chúa Lê Ngọc Hân lúc đó chỉ mới 16 tuổi.

“Trước đó, lúc công chúa Ngọc Hân mới về với Bình, Bình đã hỏi công chúa về đức tính của các vị hoàng tử. Người nào thế nào, công chúa cũng đều kể thật với Bình. Khi Bình hỏi đến nhân phẩm của Hoàng Tự Tôn như thế nào, công chúa chưa thoát khỏi thói thường của người đàn bà, nghĩ bụng anh thân hơn cháu, lại sợ Hoàng Tự Tôn sẽ cướp mất ngôi của Sùng Nhượng Công, bèn đáp:

– Nhân phẩm của Hoàng Tự Tôn cũng tầm thường thôi!

Do đó, Bình có ý không thích Hoàng Tự Tôn.”  (Chính biên, Hoàng Lê nhất thống chí).

Tài sắc song toàn của Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân quả có thể khuynh quốc đổ thành.  Tân triều đại Lê Duy Kỳ mới vừa lập mà gặp nguy cơ sụp đổ chỉ vì ý kiến của bà.

Tới đây có lẽ vài độc giả cũng chưa tin chắc về khả năng khuynh quốc đổ thành của cô công chúa 16 tuổi xứ Bắc hà.  Tôi không cần phải lý giải thuyết phục nhưng chỉ xin đưa ra thêm bằng chứng sử liệu về tài sắc nghiêng nước ngã thành của Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân.

Như đã trình là Triều đại Lê Duy Kỳ trên đà sụp đổ bởi vì Quang Trung Nguyễn Huệ phản đối.  “Sứ giả quay về nói lại ý Bình, cả triều bàn bạc phân vân, chưa biết quyết định ra sao” thì Vượng quận công phát biểu là nếu “Tự tôn không được làm vua, thiên hạ ắt loạn. Họ Lê sẽ mất, ấy là lỗi tại công chúa Ngọc Hân.”[*]   Lời của Vượng quận công khiến Công chúa Ngọc Hân suy nghĩ lại về sự tồn vong trường cữu của dòng dõi Nhà Lê của bà cho nên đã đổi ý và “xin với Bình. Bấy giờ Bình mới bằng lòng.”  Chính nhờ vào sự đổi ý của Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân mà Triều đại Lê Duy Kỳ không sụp đổ.

Thật không ngoa chút nào khi ca ngợi tài sắc song toàn của Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân có thể khuynh quốc đổ thành.


Bản Tình Ca Tuyệt Vời
“Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường còn sống còn đau.”

Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân sáng tác “Tiên Thánh Thăng Hà Hoàng Hậu Ai Vãn” hay Ai tư vãn thương vấn Hoàng Đế Quang Trung khi ông băng hà vào năm 1792.  Ai tư vãn không chỉ là bài tế văn thương sót mà thật sự còn là một bài vãn ca tình yêu da diết sâu đậm gồm 164 vần được viết bằng chữ Nôm theo thể song thất lục bát.

“Dẫu rằng non nước biến dời,
Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là.”

Thoáng qua thì khách bàng quan dễ nhận xét phiến diện và xếp loại Ai tư vãn vào thể tế văn của cuối thế kỷ mười tám để dìm vào quên lãng.  Ai tư vãn của Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân vượt qua và vượt xa các khuôn khổ chữ nghĩa cứng ngắc của tế văn.  Trong khi thể tế văn chỉ chú trọng vào ca tụng và than thở với những thán ngữ như “hỡi ôi!”, “than ôi!”  thì Ai tư vãn mô tả chuyện tình thật đẹp, sự yêu thương ưu ái, sự chia tay trong bùi ngùi, mộng sánh vai viếng Bồng Đảo, ngự sông Ngân, lần nguồn hoa, mơ tái ngộ mặc dầu nghìn trùng xa cách.

Sự gần gũi tương tự của các vần thơ Ai tư vãn với tinh hoa văn hóa bi kịch Hy lạp (Greek tragedy) khiến độc giả thưỡng lãm bừng tĩnh để bước từ trạng thái ngạc nhiên này đến trạng thái ngạc nhiên khác đối với nồng độ sâu sắc về sự bi thương của anh hùng, nỗi khắc khoải của giai nhân, cảm thức của tình yêu, công lý khắc nghiệt của số mệnh, v.v., được Hoàng Hậu Ngọc Hân đơm từ kết ngữ dẫn ý trải dài tác phẩm.

“Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường còn sống còn đau.
Mấy lời tâm sự trước sau,
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.”

Cảm thức của tình yêu trỗi dậy với vương vấn chuỗi dài kỷ niệm của quá khứ dẫn đến cảm nhận cá nhân riêng biệt vô cùng thanh khiết.  Qua Ai tư vãn chúng ta biết vua Quang Trung yêu quý Hoàng Hậu Ngọc Hân mặn nồng da diết: Lượng che chở, vụng lầm nào kể… Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội.. Nhờ hồng phúc, đôi cành hòe quế, Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi”.

“Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc,
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy.

Trăm ngàn dặm quản chi non nước;
Chữ ‘nghi gia’ mừng được phải duyên.
Sang yêu muôn đội ơn trên,
Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm.

Lượng che chở, vụng lầm nào kể.
Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.
Dẫu rằng non nước biến dời,
Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là.

Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội,
Khắp tôn thân cùng đội ơn sang.
Miếu đường còn dấu chưng thường,
Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh.

Nhờ hồng phúc, đôi cành hòe quế
Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi
Non Nam lần chúc tuổi trời,
Dâng câu Thiên Bảo, bày lời Hoa Phong”

Chính vì được yêu quý cho nên nỗi khắc khoải của giai nhân càng sâu đậm với sự cô đơn khi vắng mặt anh hùng.  Mỗi lần gió hoa bay thấp thoáng” hay “bóng trăng, lá in lấp lánh” thì giai nhân cứ tưởng là anh hùng khải hoàn.

“Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi,
Gương Hằng Nga đã bụi màu trong.
Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,
Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà.”

“Khi trận gió hoa bay thấp thoáng,
Ngỡ hương trời bảng bảng còn đâu:
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng.

Khi bóng trăng, lá in lấp lánh,
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi.
Vội vàng dạo bước tới nơi,
Thương ơi, vắng vẻ giữa trời tuyết sa!”

Cuộc tình thật đẹp, thật hạnh phúc nhưng lại sớm kết thúc theo định mệnh oái ăm khắc nghiệt của cuộc đời khó hiểu.

“Những ao ước trập trùng tuổi hạc,
Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui.
Nào hay sông cạn, bể vùi,
Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly.”

“Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,
Kể sum vầy đã mấy năm nay?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu?”

“Công dường ấy, mà nhân dường ấy, Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công?”  Công lý khắc nghiệt của số mệnh đưa đến nỗi bi thương của anh hùng đã giúp dân dựng nước xiết bao công trình!”  Ai cũng biết cái chết phải đến nhưng lại đến quá sớm với Hoàng Đế Quang Trung, một thiên tài quân sự lỗi lạc của đất nước và cũng là lệnh công yêu quý của Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân.

“Nghe trước có đấng vương Thang, Võ,
Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao;
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình!

Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn,
Công đức dày, ngự vận càng lâu;
Mà nay lượng cả, ơn sâu,
Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần.

Công dường ấy, mà nhân dường ấy,
Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công?
Rộng cho chuộc được tuổi rồng,
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.”

Tương tự một tuyệt tác bi kịch Hy lạp, Ai tư vãn biểu hiện sự giằng co giữa hai mối tương quan khác nhau như tình yêu và trách nhiệm, niềm vui và nỗi đau, sự sống và cái chết, v.v.. Phút giây bãi bể nương dâu, Cuộc đời là thế biết hầu nài sao?”

“Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy
Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu?
Phút giây bãi bể nương dâu,
Cuộc đời là thế biết hầu nài sao?”

Chàng ra đi thì cuộc đời của thiếp trở nên trống vắng.  Thiếp trông mong, ngóng chờ ngày tái ngộ trong bi thương “Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.”  Hoàng hôn lướt qua thì giai nhân theo giấc mộng để cùng anh hùng viếng Bồng Đảo, ngự sông Ngân, lần nguồn hoa.

“Buồn thay nhẽ, sương rơi gió lọt,
Cảnh đìu hiu, thánh thót châu sa.
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.”

“Theo buổi trước ngự đèo Bồng Đảo,
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân,
Theo xa thôi lại theo gần,
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.

Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh,
Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao!
Mơ màng thêm nỗi khát khao,
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi?”

Anh hùng về thiên cổ, giai nhân mong cất bước theo sau.  “Quyết liều mong vẹn chữ tòng, Trên rường nào ngại giữa dòng nào e.”  Chỉ vì gánh nặng trách nhiệm làm mẹ mà giai nhân phải nấn ná đợi chờ ngày tái ngộ. “Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi?”

“Buồn thay nhẽ, xuân về hoa ở,
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong,
Quyết liều mong vẹn chữ tòng,
Trên rường nào ngại giữa dòng nào e.

Con trứng nước thương vì đôi chút,
Chữ tình thâm chưa thoát được đi,
Vậy nên nấn ná đòi khi,
Hình tuy còn ở, phách thì đã theo.”


Bắc Cung Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân
(Tranh sơn dầu không rõ tác giả)

Tạm Kết
“Non Nam lần chúc tuổi trời,
Dâng câu Thiên Bảo, bày lời Hoa Phong”

Thông điệp tình yêu sâu đậm trong Ai tư vãn bộc lộ tình cảm mặn nồng sâu sắc giữa Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân và Hoàng Đế Quang Trung.  Cuộc tình giữa Ngọc Hân và Nguyễn Huệ thật đẹp nhưng đẹp hơn có lẽ là cuộc sống thật hạnh phúc vì vậy sự chia ly dằn vặt nỗi niềm bi thương.

Sự hiện diện của khổ đaubi thảm trong cuộc đời là những yếu tố khả trọng bởi vì có hội ngộ thì phải có chia ly.  “Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy .. Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu?”  Sự hiện diện của khổ đaubi thảm trong cuộc đời chỉ mới được giới triết gia ở Âu châu vào thế kỷ 18 và 19 khám phá từ bi kịch Hy Lạp như những định chế quan trọng trong tư tưởng.  Cũng như bi ca của Hy Lạp, Ai tư vãn của Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân đưa độc giả đến cảm nhận cá nhân riêng biệt thanh khiết nhất về hạnh phúckhổ đau, oai hùng bi thương trong tư duy.

Đối với người viết Ai tư vãn là bản tình ca tuyệt vời bất hủ đưa đến nỗi niềm xúc động thanh khiết tùy theo góc độ và lăng kính nhận xét về sự bi thương của anh hùng, nỗi khắc khoải của giai nhân, cảm thức của tình yêu, sự khắc nghiệt của số mệnh, nỗi đau của kiếp người (“Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng, Nỗi đoạn trường còn sống còn đau.”) và sự giằng co giữa hai mối tương quan khác nhau như tình yêu và trách nhiệm, niềm vui và nỗi đau, sự sống và cái chết (“Hình tuy còn ở, phách thì đã theo”).

Bao nhiêu anh hùng trên thế gian khi giả từ cõi trần được hồng nhan tri kỷ hạ bút kết tặng một bản tình ca tuyệt vời như Ai tư vãn?

“Mấy lời tâm sự trước sau,
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.”

Vịnh Thanh Dương Thành Lợi
Dương Dragon Ranch
2016-10-28


TB:  1. Tất cả các vần thơ trong tác luận này được trích từ Ai tư vãn.

  1. Trong khoa khảo luận văn học Việt Nam chưa có học giả nào phân tích sự gần gũi tương tự giữa các vần thơ Ai tư vãnbi kịch Hy lạp (Greek tragedy). Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam ca ngợi bi kịch Hy lạp qua các vở Thèbes, Prométhée, Alceste, Médée, Philoctète, Eslectre, v.v., hay ca tụng sự mâu thuẩn khốc liệt trong Hamlet và Macbeth (tác phẩm theo thể bi kịch Hy Lạp của William Shakespeare).  Rất tiếc là chưa có ai nghiền ngẫm các tác phẩm của Việt Nam phảng phất yếu tố bi hùng, bi thương tương tự như Ai tư vãn hay tác phẩm chữ Nôm vĩ đại Phạm Công – Cúc Hoa với 3884 câu thơ lục bát và 6 bản cáo trạng (4610 vần thơ Nôm).

Tình tiết trong tác phẩm Phạm Công – Cúc Hoa ly kỳ không kém Đoạn trường tân thanh với thông điệp sức mạnh của tình yêu có thể chinh phục tử thần dư sức góp mặt so tài với các tác phẩm vĩ đại trên thế giới.  Giai thoại sáng tạo ly kỳ thể hiện qua gần 5000 vần thơ Nôm trong Phạm Công – Cúc Hoa về tình yêu, thủy chung, lưu đày, bi thương, ngoại tình, ngược đãi, hồn mẫu tử, tái sinh, đoàn tụ, sự trợ giúp của Diêm Vương, Tề Thiên Đại Thánh không kém các chi tiết tưởng tượng về tình yêu, chữ tín, gian truân, đoàn tụ, sự trợ giúp của nữ thần Athena, thần gió Aeolus trong Odyssey, một tác phẩm anh hùng ca nổi tiếng của Hy Lạp.

  1. Một số học giả bị ý thức hệ điều khiển đã manh nha chính trị hóa cuộc tình thật đẹp giữa Ngọc Hân và Quang Trung Nguyễn Huệ “thành biểu tượng cho tình yêu của dân tộc” nhằm phục vụ tính cách chính thống của đội ngũ “cướp chính quyền.” Họ tốn công lao làm một việc “vô nghĩa về mặt bản chất”“Tìm cách chỉ ra dứt khoát liệu Ngọc Hân thật ra có yêu Quang Trung” để cầu mong nhân dân phải yêu bọn “cướp chính quyền.”  Các học giả bị ý thức hệ cùm óc đã quên – hay giả quên hoặc không biết – sự thật của lịch sửý nàng là tâm của chàng và ý kiến của Công chúa Ngọc Hân có thể làm sụp đổ cơ đồ nhà Lê!  Ý dân thay đổi chế độ, không biết họ dám chấp nhận hay không?

Tôi chào thua nỗ lực chính trị hóa bản tình ca bất hủ Ai tư vãn bởi vì sự trơ trẻn vô giá trị y như lời đồn Lê Ngọc Hân tương tư Gia Long nên hạ độc Quang Trung (xem chú thích#5) nhằm cũng cố nỗ lực hợp thức hóa sự chính thống của triều đình Nguyễn (nối tiếp Nhà Lê).  Gia Long sau này đã lấy Lê Ngọc Bình, em của Hoàng hậu Lê Ngọc Hân, để cũng cố chính danh.  Họ có với nhau hai người con.

“Năm Nhâm Tuất, Gia Long năm đầu (1802)…Ngày 21 Canh Thân, Thế tổ (Gia Long) đến kinh thành Thăng Long, hào mục bắt anh em Nguyễn Quang Toản dâng lên vua…Dâng nộp bà phi Lê Thị Ngọc Bình vào trong cung vua…” [Quốc sử di biên do Phan Thúc Trực soạn vào năm Tự Đức thứ 4 đến thứ 5 (1851-1852)].

Lê Ngọc Bình là vợ của vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn.  Sau khi Triều đại Tây Sơn sụp đổ, Lê Ngọc Bình trở thành vợ vua Gia Long cho nên dân gian có câu:

“Số đâu có số lạ lùng
Con vua lại lấy hai chồng làm vua.”

  1. [*] Hoàng Lê nhất thống chí có ghi là sau khi nghe Vượng quận công kết tội “Tự tôn không được làm vua, thiên hạ ắt loạn. Họ Lê sẽ mất, ấy là lỗi tại công chúa Ngọc Hân.” thì “Công chúa sợ hãi, bèn về phủ xin với Bình” để đồng ý với việc Lê Duy Kỳ lên ngôi. Tôi không tin như vậy bởi vì bà là đương kim phu nhân của Nguyên soái phù chính dực vận Uy Quốc Công Quang Trung Nguyễn Huệ nắm trọn quyền hành cho nên không có lý do gì phải “sợ hãi” lời đổ lỗi của một quận công. Đây chỉ là cách viết theo tư duy trọng nam khinh nữ vào lúc đó.  Ngô Thì Chí, tác giả của phần Chính biên trong Hoàng Lê nhất thống chí, đã phê bình Công chúa Ngọc Hân là “công chúa chưa thoát khỏi thói thường của người đàn bà, nghĩ bụng anh thân hơn cháu..” cho nên thật dễ hiểu lối viết gán công cho đàn ông mà không trông mong vào đàn bà trong Hoàng Lê nhất thống chí.  Cũng chính vì tư duy trọng nam khinh nữ cho nên có học giả nêu lập luận Ai tư vãn là do người khác (toàn là đàn ông) sáng tác thay cho Hoàng Hậu Ngọc Hân nhưng lại không trưng ra được bằng chứng mà chỉ lập luận theo lối phân tích gượng ép gán công cho đàn ông và cố ý chôn vùi sử liệu về ảnh hưởng quan trọng của Công chúa Ngọc Hân đối với quyết định của Quang Trung Nguyễn Huệ như việc phế hay lập vua Lê.

Công chúa đã từng nói với Quang Trung Nguyễn Huệ là “Nhờ công đức của thượng công, thiếp được báo hiếu với hoàng khảo, mở mặt với anh chị em.”  Một quận công không thân bằng anh chị em thì có gì đáng ngại mà “Công chúa sợ hãi”  đặc biệt là khi Quang Trung Nguyễn Huệ một mực nghe theo ý kiến của Công chúa Ngọc Hân về nội chính nhà Lê.  Trong tang lễ của vua Lê Hiển Tông “có viên tả phiên lại hơi có vẻ cười, Bình sai lôi ngay ra chém” thì việc bắt phạt Vượng quận công dễ như trở bàn tay.  Theo tôi thì lời cảnh tỉnh “Họ Lê sẽ mất” của Vượng quận công khiến Công chúa Ngọc Hân suy nghĩ lại về sự tồn vong của Triều đại Nhà Lê của bà cho nên đã đổi ý và đưa ý kiến yêu cầu Quang Trung Nguyễn Huệ ủng hộ việc Lê Duy Kỳ lên ngai vàng.  Nhưng có lẽ là mệnh trời đã sắp đặt sẵn, Lê Duy Kỳ sau đó lại trở thành kẻ ra tay kết liễu Triều đại Nhà Lê khi chính đám quan suy tôn thiếu thực tài đã đưa Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống) qua Tàu thực hiện chiến lược “cõng rắn cắn gà nhà”.

  1. Tưởng cũng cần ghi lại là vào năm 1961 Nguyễn Thượng Khánh, tự nhận là “hậu duệ trực hệ” của Lê Duy Mật, “anh” của Công chúa Lê Ngọc Hân, đã viết trên báo Phổ Thông ở Sài Gòn để lập luận là Hoàng hậu Lê Ngọc Hân hạ độc Hoàng Đế Quang Trung nhưng bằng chứng “bản gia phả bí mật” đã bị mất [Phổ Thông62 (8/1961)].  Dĩ nhiên loại xì-căn-đan “bản gia phả bí mật” này đã bị các học giả danh tiếng vào thời đó như Sử gia Thiện Sinh lật đổ kể cả cái quan hệ “hậu duệ trực hệ” dối trá của Nguyễn Thượng Khánh bởi vì Lê  Duy Mật không phải là anh của Công chúa Lê Ngoc Hân.

 

Bạn cũng có thể thích...