Đăng Nguyên

Đăng Nguyên

Tên thật : Nguyễn Đáng

Ngày sinh: 10 tháng 9 năm 1944 tại Phú Lộc, Thừa Thiên, Nam Việt Nam

Bút hiệu : Lam Kiều, Đăng Nguyên

Cựu học sinh trường Quốc Học Huế.

Cựu Sĩ Quan Khóa 22 Trừ Bị Thủ Đức
Cấp Bậc cuối cùng: Đại Úy.
Đơn vị : Biệt Đội Quân Báo Sư Đoàn 18 và Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

Cựu tù Việt Cộng. Qua Mỹ diện H.O.

Đã định cư tại các Tiểu Bang North Carolina, Maryland và Texas. Hiện đã hưu trí.

Gia nhập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại,Trung Tâm Miền Đông Hoa Kỳ từ năm 2003

Đương kim Chủ Tịch VBVNHN Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.

Tác Phẩm: Thơ văn đã được phổ biến trong các tuyển tập và các tạp chí văn học: Cụm Hoa Tình Yêu, Gọi Nhau, Đồng Tâm, Làng Văn, Thế Giới Ngày Nay, Văn Học Miền Đông. Tập San Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Tam Cá Nguyệt San Cỏ Thơm , Kỷ Nguyên Mới, Đặc San Văn Bút Miền Đông…

– Giải thưởng thơ, nhân lễ kỷ niệm 65 năm Trường Quốc Học Huế (1960)
– Dòng Sông Đen, thơ, giải thưởng Trường Quốc Học Huế (1962)
– Đã Khô Dòng Lệ, thơ (2004)
– Dòng Mực Tha Hương, thơ (2015)

Sẽ in: Bến Tình Thương (Tùy Bút)

LIÊN LẠC
ĐT: (512)810-7226
Email: ngdang99@yahoo.com


Bềnh Bồng Trong Nỗi Nhớ
Lạc Bước Giữa Rừng Thơ
“Ru đời, ru nỗi lênh đênh
Ru qua biển rộng, bồng bềnh xa khơi
Nhịp tan, nhịp vỡ, nhịp rời
Quay đi, ngoảnh lại… quê người lưu vong.”
(Vương vấn tình quê)

Vị lữ khách với ba lô trĩu nặng tâm tư dạt dào tình cảm cất bước ra đi bỏ lại sau lưng bên kia bờ Thái Bình Dương một bầu trời quê hương gói ghém những ấn tượng sâu đậm của quá khứ quý báu với biết bao kỷ niệm vui buồn lẫn lộn suốt quảng đường đời thăng trầm gian truân.

“Người đi biệt biệt tăm
Bỏ vầng trăng tà xế.”
(Dòng sông biệt tăm)

“Ra đi chưa trọn tình sông núi
Nhớ nước thương đời lệ lệ rơi.”
(Thay lời tựa)

Bầu trời quê hương bên kia nửa quả địa cầu ôm ấp tình thương lẫn nỗi nhớ của thuở xa xưa nào đó lúc trời đất hình như thật gần gũi với tình người trong vũ trụ thương yêu vô bờ bến tràn đầy nhịp đập con tim trỗi sống giữa khung cảnh thơ mộng trìu mến.

“Mùa mưa nào ướt áo em tôi
Thấm cả bờ vai, tóc rối bời
Dìu bước nhau đi, chiều Vỹ Dạ
Anh làm thơ, mưa Huế rơi rơi…”
(Mùa mưa nhớ Huế)

“Tự nhiên em đến như cánh tay
Chụp xuống vai anh chiều Chúa Nhật
Cho mát hồn những ngày nóng bức
Cho mát buồn những ngày chia ly.”
(Hơi thở mùa hè)

“Người đi để lại buồn trong mắt
Tóc xõa bờ vai thấp thoáng trông
Nón lá che nghiêng ai đứng đợi
Bên cầu Gia Hội nước còn trong
Một thoáng mơ qua, sớm vội tàn
Bởi đời đôi ngả, bước ly tan
Thương hoài mái tóc trăng thề ấy
Bên phố thu xưa nhặt lá vàng.”
(Một thoáng mơ)

Bầu trời quê hương tuy xa vời vợi đó nhưng cũng thật rất gần để chớp mắt là thấy trong góc cạnh sâu thẳm của tâm trạng đa cảm trọn vẹn khung cảnh “Huế còn thương cùng sông Hương núi Ngự, Ai chờ ai trên bến đợi chiều xưa” khiến lữ khách dẫu ở bất cứ chân trời góc biển nào cũng gìn giữ “Tim tôi vẫn mãi là tim Huế, Yêu Huế nồng nàn, Huế thiết tha.”

“Huế của riêng tôi, một góc trời
Trầm tư lặng lẽ êm đềm trôi
Sông Hương e ấp đôi bờ mộng
Núi Ngự mơ màng gió thổi xuôi…
Huế của riêng tôi mãi đậm đà
Dù bao năm tháng đã chia xa”
(Huế của riêng tôi)

Bàn bạc phảng phất thoảng nhẹ trong vẽ đẹp kín đáo của đất thần kinh xa xưa ngày nào là bóng dáng kiều diễm của vũ trụ lãng mạn tình yêu đôi lứa để vô hình trói buộc vị lữ khách lãng du trên đường đời vô tận: “Đi Bắc đi Nam đâu chẳng nhớ, nhưng nghe Huế nói… nhớ làm sao!”

“Thuở trước từ quê lên Huế học
Quen người em gái dốc Nam Giao
Từ Đàm, Bảo Quốc cùng đi lễ
Màu áo hương lam quyện má đào.
Rồi giã từ em vào Thủ Đức
Chiến trường đi mãi, lạc đời nhau
Lâu lâu gặp được người quê cũ
Nghe giọng thương thương thật ngọt ngào.
Dường như Huế mình không quên được
Nghe nói, nghe cười, lòng xuyến xao
Đi Bắc đi Nam đâu chẳng nhớ
Nhưng nghe Huế nói… nhớ làm sao!”
(Huế lạ thường)

Yêu thương là bản năng tự nhiên nhưng biết yêu là tình tự lãng mạn độc đáo phản ảnh khía cạnh đam mê đặc biệt của tình nhân.  Vũ trụ yêu thương của lữ khách gói ghém chứa đựng tình cảm bất tử nhẹ nhàng quyến luyến hòa luyện vào nhịp đập con tim bập bùng và mặn nồng hơn cả nhịp độ thủy triều dâng hạ của đại dương trùng trùng điệp điệp.

“Mời em!
              Rượu chuốc
                                 Tình lơi
Huyên huyên
                    Náo náo
                                 Tuyệt vời cố nhân.”
(Tuyệt vời cố nhân)

“Nóng bỏng đời riêng, vó ngựa điên.
Trong mơ gọi dậy, mãi mê tìm.
Trăng thừa còn dấu in trên gối.
Nóng bỏng riêng đời, nóng bỏng em.”
(Vó ngựa điên)

Hôm qua là quá khứ.  Ngày mai là tương lai.  Hiện tại biến mất trong chớp mắt với cao độ gia tăng của thời gian quý báu.  Ai cũng cố níu kéo hiện tại nhưng có lẽ không bao giờ thực hiện được ước mơ viễn vong đó bởi vì cần có xa mới có gần, có buồn mới biết vui cho nên có hợp thì phải có tan.

Vòng luân chuyển của tình tự đôi lứa hầu như không bao giờ chấm dứt.  Còn lại chỉ là dư âm của kỷ niệm vui buồn, đôi lúc bỗng trở lại chớp nhoáng như một thoáng mơ trong khoảnh khắc thời gian hình như dừng nhịp…

“Người vỡ đất hoang tận cuối trời
Tôi xây hồn mộng giữa chơi vơi
Chuyến tàu xuyên suốt qua sa mạc
Nhạc tấu khúc đời chậm chậm rơi.”
(Hiu hiu cồn cát)

“Người đi để lại buồn trong mắt
Tóc xõa bờ vai thấp thoáng trông
Nón lá che nghiêng ai đứng đợi
Bên cầu Gia Hội nước còn trong
Một thoáng mơ qua, sớm vội tàn
Bởi đời đôi ngả, bước ly tan
Thương hoài mái tóc trăng thề ấy
Bên phố thu xưa nhặt lá vàng.”
(Một thoáng mơ)

“Giờ còn không? một chút gì nhau!
Em ở bên kia tóc nhuốm màu
Anh ở bên này sầu rả rich
Mùa mưa về lạnh buốt canh thâu.”
(Mùa mưa nhớ Huế)

“Hè đỏ rơi rơi hoa phượng hồng
Lòng tôi dào dạt nỗi chờ mong
Qua mùa thi ấy nên duyên nợ
Ðôi lứa chung nhau một tấm lòng.
Chứng kiến tình tôi, cành phượng nồng
Tưởng thuyền xuôi mái, nước thong dong
Ðâu ngờ chinh chiến làm phiêu bạt
Kẻ ở người đi, bỏ bến không.

Tôi về quê cũ sau chinh chiến
Nghe tiếng ve sầu giọng nỉ non
Buồn bã tôi ôm hoa phượng héo
Phủ lên bia mộ, khóc trong hồn.”
(Thương một mùa hoa)

Cuộc đời có lẽ là vô thường do đó có hợp thì sẽ có tan, có đến chắc phải có đi.  Biệt ly là kết cục khó tránh của nỗi niềm yêu thương do đó tình cảm ngày nào rồi cũng phải từ biệt bỏ rơi lữ khách một mình ấp ủ các vần thơ giữa dòng đời cuồn cuộn tuôn về cõi vô định.

“Từng cơn mưa rào, trận mưa mau
Từ mái hiên đêm nhỏ giọt sầu
Thơ chẳng bao giờ em được đọc
Mà sao vẫn nhớ mùa mưa đầu.”
(Mùa mưa nhớ Huế)

“Có lẽ tình ta mãi cách ngăn
Bởi thời ly loạn, bởi duyên căn
Bao giờ về lại bên hồ Tịnh
Nhớ thuở ban đầu gặp dưới trăng.”
(Có lẽ tình ta)

“Chờ mong mấy thuở tương phùng nhỉ!
Gặp gỡ, chia ly, thoáng chạnh lòng
Dòng thác thời gian trôi chậm lại
Bên bờ hiu quạnh, mộng tàn đông.”
(Hạ buồn)

Lịch sử cận đại của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự tàn phá duy vật tác hại.  Trên đường đời trải dài suốt kiếp người, như nhiều chàng trai xứ Việt của thời lịch sử khốc liệt ngày nào, lữ khách đã cất bước lên đường trả nợ núi sông để bảo vệ đất nước trước cơn bão lửa thiêu đốt di sản giá trị đạo đức ngàn năm của dân tộc.

“Sinh ra trong thời loạn
Thân thế có cần chi
Đời trai đành phiêu bạt
Ra đi không hẹn về.
Buồn vui theo vận nước
Trôi dạt khắp sơn khê
Qua bốn Vùng Chiến Thuật
Nơi nào cần là đi.”
(Trong cơn mê)

“Người lính phong trần thương trận địa
Giầy sô áo trận đầy hai vai.
Cho tôi hơi thở hồn Xuân Lộc
Đất đỏ cao su phơi tháng ngày
Trận chiến cuối cùng vào lịch sử
Hàng hàng lớp lớp bủa trùng vây.”
(Nửa hồn chinh chiến)

Tháng tư đen tước quyền tự vệ, trói buộc dân tộc đẩy cả nước vào ngưỡng cửa địa ngục bị phong tỏa bởi đám ma vương quỷ đỏ.  Bóng đen chính trị của đồ tể ý thức hệ bao trùm từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau dần dần len lỏi đầu độc tê liệt mọi khía cạnh sinh hoạt của xã hội.  Đồng đội tan rã, gia đình chia ly, nước mắt đau khổ chảy dài thành dòng sông thương tâm trong lòng người.

“Nước mắt tôi nhỏ xuống phận người
Hồn oan gục ngã chiều Ba Mươi
Tháng Tư mất nước mồ phiêu dạt
Mãi mãi còn nguyên giọt máu tươi.
Ai về Xuân Lộc hư linh cảm
Núi Chứa Chan vần vũ mây trôi
Chớp mắt thời gian đầu bạc trắng
Giọt sầu, giọt đắng, giọt đầy vơi.
Nước mắt tôi khô cạn không lời
Đường đi xa mãi quê hương ơi!
Tháng ngày màu trắng pha sương đục
Đốt nén hương lòng thương nước tôi.
Lai Khê còn đó rừng xanh thẳm
Long Khánh xa xăm cuối nẻo trời
Người lính già nua thương trận địa
Mưa rơi, mưa rơi, chiều mưa rơi.”
(Thương trận địa)

“Ðầu Xuân, Xuân Lộc mờ trong khói
Tuyến thép vang lừng cuộc chiến chinh
Ðất đỏ pha thêm màu máu đỏ
Nghìn năm lịch sử mãi ghi tên.
..
Trở lại Gia Ray thân cải tạo
Nhìn đồi Phượng Vỹ nắng vàng lên
Trung Ðoàn Năm Hai đâu rồi nhỉ!
Phượng Vỹ còn kia! thầm gọi tên.”
(Chiều nhớ Xuân Lộc)

“Thời gian qua biển lửa
Ngày đối diện cùm gong
Ðêm hành hạ xác thân
Ðảo điên qua vận thế.”
(Dòng sông biệt tâm)

“Tiễn anh giọt lệ mưa tầm tã
Ðốt nén tâm hương tôi nguyện cầu
Sống gửi thác về nương cõi Phật
Tây Phương tịnh cảnh phước dài lâu.”
(Khóc chiến hữu)

Lữ khách bị đày đọa như lao nô trên quê hương mình trong các trại tù khổng lồ giết dần mòn những hào kiệt, anh thư của đất nước.  Trong bóng đêm thăm thẳm của địa ngục ý thức hệ là tia sáng mỏng manh của niềm tin tự do, và tự do cuối cùng đã đến với lữ khách trên đường lưu vong làm kiếp người tị nạn.

“Tạ ơn Tự Do cho tôi sống
Tôi viết tình tôi chẳng dở dang
Tôi khóc tôi cười không cấm cản
Tự Do đổi bằng máu lệ nhỏ hàng hàng.”
(Tạ ơn)

“Dập vùi cơn lốc xoáy
Lịch sử như gió lùa
Bàng hoàng thân tị nạn
Mòn mỏi gót giầy khua.”
(Đêm Đông)

“Làm khách lạ giữa quê hương câm nín
Gót chân khua thê thiết gõ trong hồn
Tìm bạn bè, giờ lưu lạc mười phương
Ôm kỷ niệm để vỗ về quá khứ.”
(Chung điệu nhớ)

Trên xứ lạ, lạc lõng bơ vơ giữa rừng người hấp tấp vội vã tuôn theo cuộc sống dồn dập, lang thang đi tìm hương vị của ngày ấy nhưng biết bây giờ lưu lạc ở phương trời góc bể nào?  Hàng năm mỗi dịp nàng Xuân đến lại khiến lữ khách đau nhói trong lòng với vương vấn tình tự cất gởi ở bên kia nửa quả địa cầu và nỗi nhớ các chiến hữu thuở xa xưa.

“Ở đây như thể phương trời khác
Nên nhớ quê hương đến não lòng”
(Đi giữa rừng Thu)


“Ở đây dư dả lời chúc tụng
Nhưng thiếu quê hương của mẹ hiền”
(Chiều Xuân)

“Vang vọng hồn quê bát ngát sầu
Sông thương núi nhớ mãi tìm nhau
Lính già thân gửi phương trời lạnh
Cố quốc xa mờ nát ruột đau.”
(Buồn tháng Tư)

“Nhớ chiều hành quân nơi quê cũ
Trên những rừng thưa, những ngọn đồi
Chờ chuyến trực thăng vào trận địa
Thương rừng, nhớ bạn đã xa xuôi.
Giờ thảnh thơi nghe mưa thác đổ
Tưởng chừng như thể nước mắt rơi
Bạn bè đâu mất, tìm không thấy
Chỉ thấy hồn đau, xác rã rời.”
(Mưa xứ người)

“Ðường chiều quanh mấy ngả
Bóng xế tà tà vây
Tuổi đời cao chồng chất
Ngày nào đi? Ai hay!
Bạn bè ngày một ít
Nhớ khi còn tù đầy
Chia nhau tùng ngụm nước
Sao bây giờ chia tay!”
(Đường chiều)

Trong đáy sâu thăm thẳm của địa ngục ý thức hệ, lữ khách tồn tại được nhờ vào niềm tin tự do.  Trên xứ sở của an lành thanh bình, niềm tin tự do đó trở thành khác khao hy vọng cho đồng bào thân yêu bên kia bờ Thái Bình Dương sẽ được cùng Chung Điệu Nhớ “Mơ một ngày có cơ duyên huyền diệu, Người với người chung điệu nhớ Nam Ai”.

“Mơ một ngày về đầy nắng ấm
Sài Gòn mở hội đón Xuân ca
Vui Xuân, vui giữa lòng dân tộc
Tay nắm tay nhau, đời Thái Hòa.”
(Mơ một tình Xuân)

“Tôi sẽ cùng em
   Trong lời thơ
        Không nói
   Ðể cùng em
        Ðốt sách, đốt kinh, đốt hiến pháp
        Ðốt hiến chương, luật lệ…
   Của bọn cầm quyền, vua quan tồi tệ
   Của bọn độc tài đảng trị, ma giáo, sa tăng, ác quỉ
        Hút máu dân lành
              từng đêm.
Tôi sẽ gặp em
   Ðọc những bài thơ đen
        Cho người già,
               người trẻ,
               xã hội toàn thi sĩ
   Chỉ biết làm thơ
        Thế giới công bình.
               Trước Thượng Ðế.
               Hư Vô.
               Thần Bí.”
    (Ngụ ngôn đen)

Vị lữ khách cất bước trên đường đời biền biệt từ quê hương ấp ủ tình thương vượt Thái Bình Dương bao la đến bến bờ tự do là một thi nhân hiền hòa trong tư cách, bao dung trong nhận định và sống thật với sự trong sáng dạt dào tình người.

Vị lữ khách “Làm thơ chẳng để làm thi sĩ, Chỉ tại thương thơ thương ý đời” được minh họa trong khải văn sơ thảo này là nhà thơ Đăng Nguyên Nguyễn Đáng, cựu học sinh Quốc Học Huế, nguyên Đại Úy Biệt Đội Quân Báo SĐ 18 QLVNCH.  Từng đạt giải thưởng thơ năm 1960 và năm 1962 của Quốc Học Huế, tham gia nhiều tổ chức văn hóa đa dạng như Hội Thơ Tài Tử, Hội Văn Nghệ Sĩ Tự Do, Hội Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong, Hội Văn Học Nghệ Thuật Vùng Hoa Thịnh Đốn, VH Đăng Nguyên hiện là đương kim Chủ Tịch VBVNHN Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.

Tôi diện kiến và giao hữu với nhà thơ Đăng Nguyên từ khi chúng tôi nhận lãnh nhiệm vụ khó khăn phụ trách Chủ Tọa Đoàn trong Đại Hội VBVNHN kỳ 10 đầy sóng gió vào tháng 12/2014 ở California.  Anh trân trọng tình bạn và, được tôi yêu cầu, anh đã gởi kịp tập thơ Dòng Mực Tha Hương trước khi tôi ra sân bay đi nước ngoài vào trung tuần tháng 8/2015 cho nên cần tác phẩm để nghiền ngẫm trong lúc rảnh rỗi.

Dòng Mực Tha Hương chứa đựng những vần thơ đưa độc giả trở về cõi mộng nào đó dạt dào tình cảm dịu dàng của miền Nam trìu mến xa xưa cũng như gợi nhớ những giây phút xao xuyến hồi tưởng kỷ niệm ngọc ngà bị chôn vùi sâu thẳm dưới đáy vực lãng quên của cuộc đời thực tại vùn vụt đi qua.  Rừng thơ của lữ khách Đăng Nguyên lấp lánh tinh tú thi ngữ như quang tuyến tinh khiết của ngọn hải đăng tỏ sáng trong sương mờ mù mịt để định hướng cho con thuyền tình thương ấm áp ghé bến xứ người lạnh lẽo thỉnh thoảng thiếu xót tình tự đồng hương nồng nàn.

“Tạ ơn thơ đã cho tôi mộng
Nếu chẳng còn thơ, mộng cũng tàn
Giấy bút ai còn chăm chút nữa
Tình đời chắc hẳn lắm ly tan.”
(Tạ ơn)

Dòng Mực Tha Hương dẫn dắt độc giả lạc bước vào rừng thơ ấm cúng, đa dạng và đa sắc.  Xin đa tạ thi sĩ Đăng Nguyên đã cho tôi cơ hội được thưởng lãm những vần thơ thật đa cảm trong giây phút trống vắng xa cách sự ấm cúng của gia đình.

Bềnh bồng trong nỗi nhớ,
Lạc bước giữa rừng thơ..

  .. tôi hạ bút ghi lại những cảm nghĩ cá nhân về rừng thơ ấp ủ tình người của VH Đăng Nguyên để chia sẻ cùng quý văn thi hữu trân trọng nét hay vẽ đẹp đa dạng khắp bốn phương trời trong vũ trụ thi thơ.

Vịnh Thanh


MƯỜI KHÚC LỤC BÁT TÌNH

1- VÔ NGÔN
Bờ đêm.
      Chạm trán tỉnh say.
Để buồn réo rắc.
      Ru ngày tháng qua.
Chạm Em.
      Ngờ vực yêu ma.
Ngõ hồn lay động.
      Vực sa thác ghềnh.
Đời qua lối nhỏ.
      Chông chênh.
Em điên loạn khóc.
     Cuộc tình chết oan.
Đêm đen.
      Chữ nghĩa mơ màng.
Dấu than.
      Dấu hỏi.
           Đời hoang mang đời.

2- DUYÊN MÂY
Quên trời.
      Mà lại nhớ mây.
Để em vào cuộc.
      Sum vầy nợ duyên.
Vòng tay.
      Ai kết ngữ nguyên.
Đêm xao xuyến mộng.
      Ngày huyên náo đời.
Thềm hoang.
      Vàng lá Thu rơi.
Người đi hóa kiếp.
      Nghe tơi tả buồn.
Phố khuya.
      Rào rạt mưa tuôn.
Âm vang dìu dặt.
      Khúc cuồng dại yêu.

3- GIỌT LỆ KHÔ
Trái tim chừng đã hư vô
Mắt đau dòng lệ đã khô vạn lần
Vết thương sẹo trắng đầy thân
Trăm năm thế sự xoay vần mà đau.

4- LỜI RU LẠ
Có em.Ta có thơ đề.
Ru ta vào cõi vụng về của mơ
Dịu dàng một chút duyên ưa
Rủ rê tâm sự, em vừa ý không ?

Thương sao suối tóc bềnh bồng
Mắt đen huyền diệu mênh mông sao trời
Ta đâu còn nữa là người
Bỡi ta bay bổng tuyệt vời tuyết tan

Còn đâu thân xác bang hoàng
Hết rồi đau nhục, hết tang thương buồn
Hết đi vào cõi đời thương
Hết ru cõi nhớ, hết nguồn cõi yêu.

Ta à ! Lãng lãng phiêu phiêu
Không vương vấn bụi, Em chiều chuộng không ?
Thôi ta về với cõi hồng
Tặng em mấy khúc cuồng ngâm giữa đời.

Em à ! Em thật chơi vơi… !

5- KHÓC CHÁU NỘI TÂM NHƯ
Cháu về bên cõi Thanh Vân
Nội còn ở lại dương trần khóc măng
TÂM tư chin khúc ruột bầm
NHƯ mây chuyển thế, bỏ vầng trăng côi.

Cháu về bên ấy thảnh thơi
Nội cầu chư Phật độ đời cháu ngoan
TÂM Kinh lần đọc từng trang
NHƯ không, NHƯ có, NHƯ hoàn TÂM NHƯ.

6- HOÀNG HÔN
Bây giờ ta đã già nua
Tình yêu chạy trốn gió mùa Thu sang
Rớt rơi trăm ngọn lá vàng
Mượn em chiếc áo giữa hoàng hôn bay.

Bây giờ ta đã say say
Lá vàng rơi chậm cho ngày tháng qua
Hình như em cũng nhạt nhòa
Nữa bay theo gió, nữa tha thiết đời.

Mang mang hồn mộng chơi vơi
Ta còn lại chút tình lơi lả sầu.

7- THOÁNG MƠ
Thoáng Em.
      Gợn chút tình si.
Cõi bờ ngăn cách.
      Chia ly cuối trời.
Thoáng sông sâu.
      Nước tuyệt vời.
Ma ma hiện hiện.
      Một thời điêu linh.
Thoáng núi cao.
      Theo địa hình.
Tính nhầm cột mốc.
      Ân tình bẻ đôi.
Thoáng đêm xưa.
      Đạn bom rơi.
Yêu tinh phục kích.
      Bỏ đời chiến chinh.
Thoáng hồn .
      Thơ thẩn ly sinh.
Thương bờ nhớ cõi.
      Riêng mình ta ta…

8-TUYỆT VỜI CỐ NHÂN
Tưởng quên.
      Mà lạ chi người !
Mười phương đạn lạc
      Mà ngươi quay về.
Nhủ thầm.
      Qua một cơn mê.
Đong đầy nhân nghĩa.
      Chưa hề dối gian.
Cà phê.
      Quán nhạc.
           Tàng tàng.
Nữa say thế sự.
      Nữa hoang mang đời.
Mời em !
      Rượu chuốc.
           Tình lơi.
Huyên huyên.
      Náo náo.
           Tuyệt vời cố nhân.

8- NÓI VỚI MÙA XUÂN
Xuân à ! Cứ tưởng Xuân đi
Nào hay Xuân lai tức thì về ngay
Đời say, Xuân cũng say say
Hoa vàng. Bướm trắng, ngất ngây một trời.

Xuân à ! Cứ tưởng Xuân tươi
Ngờ đâu Xuân cũng biết cười gió đông
Bên kia Xuân đẹp , Xuân nồng
Bên này Xuân quá lạnh lùng. Hỡi Xuân !

9- ĐẾM CÁI XUÂN TÔI
Ai đem Tết đến quê người
Mùa Xuân ngồi đếm trên mười ngón tay
Bánh tét mỏng, bánh chưng dày
Màu quê hương thắm hây hây xuân thì.

Người đi tiếp nối người đi
Quê hương bỏ lại còn gì xuân xanh
Hao hao cũng giống quê mình
Sao nghe tiếng súng đì đoành chẳng vui

Tôi ngồi đếm cái Xuân tôi
Thì ra đã bảy chục ngoài không hay.

10-BẾN KHÔNG
Người về huyên náo đời ta
Tưởng chừng như thể xót xa đợi chờ
Nghe âm vang vọng hững hờ
Dung nhan còn lại sợi tơ duyên đầu
Dặm ngàn bước mỏi canh thâu
Tay cầm tràng hạt tâm cầu Tâm Kinh
Giữa đời quên chuyện nhục vinh
Tình yêu qua mất lềnh bềnh bến không.

ĐĂNG NGUYÊN


ĐÊM VÔ THƯỜNG

 
Cách biệt đời nhau những chạnh lòng
Người vào cõi nhớ nhớ mênh mông
Người còn ở lại buồn vương tóc
Trắng xóa tang đời trắng xóa đông.
 
Điệu kèn thổ mộ vang trong gió
Hương khói phiêu du những cánh đồng
Vẫn biết vô thường cơ tạo hóa
Nhưng lòng trăn trở mãi không thông
 
Nửa đêm thức giấc  hồn nghe lạnh
Văng vẳng đâu  đây những tiếng cồng
Tâm chuyển mang mang thời chuyển thế
Ngoài trời tuyết đổ tựa như bông.
 
Hương sắc  phai tàn hoa hóa kiếp
Lâm ly còn lại những tang bồng
Thân thương mới đó mà qua mất
Tiếng khóc chào đời nẻo cuối sông.

Mùa Tuyết 2018
Đăng Nguyên


Cố Thi Sĩ HÀ BỈNH TRUNG

“Đọc Thơ Đăng Nguyên ( Trích trong Đã Khô Dòng Lệ )”

Đăng Nguyên đã nửa đời hiến thân cho chính nghĩa tự do trong hàng ngũ quân đội miền Nam.Trải qua nhiều nguy hiểm chiến trận và nhiều năm tù đầy trong trại cải tạo, anh không chết mà bị thương, một vết thương tinh thần quá lớn, đau đớn mãi không thôi.

          Hình như tất cả mọi sự nghiệt ngã trong quá khứ đã dồn ép anh đến mức phải nhỏ lệ, và cứ mãi thế cho đến một ngày anh đã cạn khô dòng lệ ! Tất cả những kỷ niệm đau buồn đã đưa anh đến tìm Nàng thơ để bộc lộ mọi tâm sự cho dịu bớt những căn thẳng tinh thần.

          Có thể nhờ thế mà tôi đã được anh cho đọc những bài thơ dịu buồn nói lên tâm trạng của anh, đã từng ấp ủ mấy chục năm qua.

          Về tháng Tư khi miền Nam sụp đổ, anh viết :

                   “Tháng Tư, tôi không còn trong tôi

                   Một nửa mất rồi, nửa nổi trôi

                   Chuông giáo đường không nghe Chúa gọi

                   Chuông chùa cũng vượt mấy ngàn khơi.

                    Tháng Tư, em không còn bên tôi

                   Mộng cũng tan, thơ cũng lạc đời

                   Ngày tháng còn chi trong trống vắng

                   Nỗi buồn nghe muối mặn bờ môi….”

          Thơ Đăng Nguyên chân thật, tràn trề thất vọng, tình cảm bị dồn nén, phải đổ lệ.Khóc thầm, khóc tủi,khóc mãi đến khô dòng lệ. Anh đúng là một nạn nhân chiến tranh, mang vết thương lòng quá nặng, khiến cuộc đời hòan toàn biến đổi, tự ý sống cô đơn, sống với nội tâm như một kẻ thất tình, lưu vong đau khổ :

                   “Giấc mơ nào trọn kiếp người

                   Giấc say nào hết một đời ngửa nghiêng

                   Tình yêu nào của tư riêng

                   Sao đem nhung nhớ qua miền gió bay…

                   ………….

                   Buồn trông nước mất dân tù

                   Buồn trông sông núi mịt mù khói sương

                   Buồn trông kẻ sĩ tha phương

                   Cơ đồ nghiêng ngửa sống nương xứ người…..”

……………………….

Đăng Nguyên làm thơ rất tự nhiên, nghĩ sao viết thế, nói về thân phận của mình theo dòng cảm xúc đau khổ ! Vì vậy mà người đọc có thể thông cảm ngay với tác giả và chia xẻ nỗi buồn thương của người lính trận, trong thuở “Trời đất nổi cơn gió bụi”  cũng như  tôi đã cảm thông với tác giả.

                                                Virginia, 26-7-2003

                                                    Hà Bỉnh Trung


ĐỐT NÉN HƯƠNG LÒNG 

( Tưởng Niệm Chuẩn Tướng Tư Lệnh  Lê Nguyên Vỹ) 

Chiều ấy Lai Khê u uất lắm
Đất trời, cây cỏ, ngập màu tang
Khi Người nằm xuống, Người nằm xuống
Ta đã mất rồi ! Mất Việt Nam.
 
Sáng Ba Mươi giặc tràn Phú Lợi
Quân ta về trấn thủ Bình Dương
Ta vẫn nghe tiếng Người trong máy
Lòng trung tổ quốc vẫn vang vang.
 
Tiếng súng Mười Giờ đau vận nước
Máu anh hùng mãi mãi còn loang
Cờ Lai Khê ngậm ngùi trong gió
Mưa Bến Cát rào rạt bàng hoàng.
 
Đường Mười- Ba giặc về ta vẫn đánh
Đoàn chiến xa mở đường máu, không hàng
Đồi Băm-Mốt Sư Đoàn bị bức tử
Đêm Ba- Mươi vang vọng những hồn oan.
 
Bao nhiêu năm cờ tang chưa xả
Sống lưu đầy lòng đau nhục mang mang
Trời tháng Tư vẫn nghẹn ngào trong nắng
Hỡi hồn Người ! Còn vang tiếng Việt Nam.

                                  ( Đã Khô Dòng Lệ)
                                     Đăng Nguyên